Bột Cá Biển

Cơ sở sản xuất bột cá Nguyễn Thị Sậu cung cấp bột cá biển (Cá Ngừ) 55 đạm, không pha tạp chất. Tel: 0966 245 345

Chào bán bột cá Ngừ 55% đạm nguyên chất giá 18.000đ/kg

Cơ sở sản xuất Bột cá Nguyễn Thị Sậu cung cấp Bột cá Ngừ sấy khô với độ đạm 55%,  độ ẩm 10% với sản, giá cạnh tranh, có mùi thơm đặc trưng. Bột cá Ngừ được sản xuất từ 100% nguyên liệu cá Ngừ không pha tạp chất, không Vi khuẩn gây bệnh (Salmonella), không Vi khuẩn E Coli, không nấm mốc (mycotoxin).

Chúng tôi giao hàng tận nơi khu vực ĐBSCL, Tp.Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai… Quý khách ai có nhu cầu mua xin liên hệ số 0966 245 245 (Sáng) hoặc 0989 22 30 32 (Liên)

Một số hình ảnh bột cá:

Bột cá ngừ 55% đạm nguyên chất giá 18.000đ/kg

Bột cá ngừ 55% đạm nguyên chất giá 18.000đ/kg

Bình Định chọn cá ngừ đại dương là sản phẩm nông nghiệp chủ lực

ca-ngu636166249296524923Mới đây, UBND tỉnh Bình Định đã quyết định chọn cá ngừ đại dương là sản phẩm nông nghiệp chủ lực để tiến tới thành lập hợp tác xã gắn với chuỗi giá trị sản phẩm theo cụm liên kết ngành.

Cùng với đó, UBND tỉnh Bình Định đã đăng ký với Bộ Kế hoạch và Đầu tư mặt hàng nông sản chủ lực trên nhằm được hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng cho chuỗi sản xuất cá ngừ đại dương. Theo quyết định của UBND Bình Định, 7 xã ở huyện Hoài Nhơn sẽ tham gia chương trình này, với quy mô 1.000 chiếc tàu công suất lớn chuyên khai thác cá ngừ đại dương bằng hình thức câu tay, sản lượng khoảng 8.000 – 9.000 tấn/năm, giá trị sản phẩm 722,5 tỷ đồng/năm, tiêu chuẩn chất lượng đạt an toàn vệ sinh thực phẩm tuyệt đối.

Được biết, Bình Định hiện có gần 8.000 tàu cá (trong đó, 3.850 tàu khai thác xa bờ, là một trong những địa phương có số lượng tàu khai thác xa bờ lớn nhất Việt Nam) với hơn 37.000 lao động nên sản lượng khai thác của ngư dân đạt khoảng 200.000 tấn mỗi năm. Ngư dân Bình Định khai thác chủ yếu tại các ngư trường truyền thống như quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa…  Đội tàu cá 25 chiếc tham gia mô hình đánh bắt theo chuỗi cũng đã triển khai thực hiện được hơn 2 năm và cá ngừ Bình Định cũng đã tham gia đấu giá thành công tại Nhật Bản với giá cao gấp 3 lần so với giá bán trong nước.

Tuy nhiên, thời gian qua, ngư dân Bình Định cũng gặp không ít khó khăn. Công nghệ khai thác và bảo quản sau thu hoạch trên tàu chưa tốt, tình trạng tàu cá bị nước ngoài bắt giữ, xử phạt vì vi phạm lãnh hải vẫn xảy ra.

Để khắc phục khó khăn, hiện nay các ngư dân Bình Định đã đăng ký thành lập các tổ, đội tàu đoàn kết khai thác thuỷ sản trên biển. Các tổ, đội này được thành lập theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản và 4 cùng (cùng: nghề, ngư trường, nơi cư trú, gia đình hoặc là bạn bè của chủ tàu). Mỗi tổ, đội tàu đánh bắt cá xa bờ từ 3-5 tàu. Hiện tại, Bình Định có 451 tổ đoàn kết với hơn 1.829 tàu tham gia, giúp ngư dân gắn kết hơn trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, nâng cao hiệu quả khai thác…

Cùng với đó, Hội Nông dân tỉnh Bình Định cũng cùng các ngân hàng tín chấp cho ngư dân vay vốn mua sắm ngư lưới cụ, cải hoán đóng mới tàu thuyền khoảng 200 tỷ đồng với gần 6.000 hộ vay. Tiến hành cho vay từ Quỹ Hỗ trợ nông dân với 5 dự án (1,15 tỷ đồng cho 65 hộ vay).

(Theo TCTS)

ICCAT thông qua kế hoạch cá ngừ mắt to, cá ngừ vây xanh

Tại cuộc họp tại Vilamoura, Bồ Đào Nha từ ngày 14 – 21/10/2016, Ủy ban Quốc tế về Bsatellite-data-can-help-protect-bluefin-tuna636159241393176776-pngảo tồn cá ngừ Đại Tây Dương (ICCAT) đã thông quá kế hoạch thực hiện chiến lược khai thác cá ngừ vây xanh và cá ngừ mắt to mới.

Theo Tổ chức Phát triển bền vững Thủy sản Quốc tế, ICCAT đã nhận được 1 lá thư từ các tổ chức phi chính phủ  cùng chí hương và các đồng nghiệp trong ngành trước khi cuộc họp diễn ra, trong đó nhấn mạnh về sự cần thiết của việc tiếp tục thực hiện các chiến lược thu hoạch của năm nay.

Một chuyên gia cao cấp của Pew cho biết, quyết định tăng hạn ngạch khai thác cá ngừ vây xanh Đông Đại Tây Dương đặt ra một tiền lệ nguy hiểm, và cho thấy cam kết của các thành viên ICCAT về việc quản lý dựa trên cơ sở khoa học rất mong manh.

Ngoài ra, việc không có hành động mới nào để bảo vệ cá ngừ mắt to, loài đang bị đe dọa do sự gia tăng của việc sử dụng thiết bị thu hút cá (FAD) tại vùng biển Đại Tây Dương, ICCAT đã cho phép việc lạm thác cá ngừ mắt to được tiếp tục diễn ra, nguy cơ tiếp tục suy giảm nguồn lợi.

 

Các chiến lược thu hoạch cá ngừ vây xanh và cá ngừ mắt to, khi thực hiện thành công, sẽ cho phép ủy ban có hành động nhanh chóng để khôi phục nguồn lợi và đảm bảo lợi nhuận, tính bền vững, và ổn định lâu dài.

 (Theo Undercurrentnews)

Lệnh cấm khai thác cá ngừ tại Thái Bình Dương có hiệu lực

pacificbluetuna5918636160939391518732Lệnh cấm khai thác lần thứ 2 được thiết lập nhằm bảo vệ các loài cá ngừ khác nhau tại vùng biển Thái Bình Dương đã có hiệu lực từ ngày 18/11/2016.

Lệnh cấm khai thác sẽ kéo dài tới ngày 18/01/2017. Lệnh cấm đầu tiên được thực hiện từ ngày 29/7 đến ngày 28/9/2016.

Những lệnh cấm này giúp bảo vệ các giai đoạn sinh học nhạy cảm nhất của các loài, với mục đích đảm bảo rằng các loài này tồn tại đến mùa khai thác sau nhằm mục đích duy trì hoạt động, và góp phần vào an ninh lương thực trong cũng như ngoài nước, và các lợi ích khác.

Tại Mexico, nghề khai thác cá ngừ được quy định bởi NOM-001-SAG/PESC-2013, trong đó thiết lập các thông số kỹ thuật đối vơi hoạt động khai thác cá ngừ của các tàu lưới vây, cũng như thiết lập các giai đọan cấm khai thác.

Theo số liệu thống kê của Ủy ban Cá ngừ nhiệt đới khu vực Bắc – Nam Mỹ (IATTC), tính đến ngày 02/10. Các tàu cá ngừ của Mexico đã đánh bắt 96.354 tấn cá ngừ, tương đương 19,5% tổng sản lượng khai thác đã đăng ký tại khu vực Đông Thái Bình Dương (EPO).

Cá ngừ vây vàng chiếm phần lớn sản lượng khai thác của Mexico, đạt 79.032 tấn. Tiếp đến là cá ngừ vằn, đạt 10.393 tấn, cá ngừ chấm đạt 3.489 tấn, và cá ngừ vây xanh Thái Bình Dương đạt 2.904 tấn.

Sản lượng khai thác của các tàu Mexico chỉ vượt ngưỡng của Ecuador, nước trong 9 tháng đầu năm 2016 sản lượng khai thác đạt 211.739 tấn.

(Theo Fis)

Tháng 12/2016: Giá cá ngừ vằn thế giới tăng

ca-ngu-van636162865132904781Tháng 12/2016, giá cá ngừ vằn giao tại Bangkok, Thái Lan tăng cao hơn so với tháng 11 do hoạt động khai thác tại Tây Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương trầm lắng.

Thông thường, giá cá ngừ vằn giảm trong tháng 12 do người dân có xu hướng không ăn cá ngừ hộp.

Thông tin giá tăng có thể ảnh hưởng tới tất cả các nhà NK cá ngừ vằn ở Ấn Độ Dương, Tây Ban Nha, Ecuador, Colombia và một số nước khác.

Giá cá ngừ vằn ở Bangkok trong tháng 12 năm nay đạt mức 1.500 USD/tấn (giá C&F), tăng từ 1.350-1.400 USD/tấn trong tháng 11 và 1.100-1.200 USD/tấn thời điểm trước đó trong năm nay. Mặc dù vậy, mức giá của tháng 12 vẫn thấp hơn mức 1.600 USD/tấn hồi tháng 4.

Nguồn cung cá ngừ hiện tại khá thấp do sản lượng khai thác ở Tây Thái Bình Dương (WPO) trong tháng 10 giảm và ngư trường ở Đông Thái Bình Dương (ETP) đóng cửa.

Đối với nhiều công ty đóng hộp cá ngừ ở Thái Lan, thông tin giá tăng khiến họ không mấy vui mừng do giá nguyên liệu đầu vào tăng và có thể làm xấu thêm các vấn đề tài chính của họ.

Giá cá ngừ tại Ecuador cũng đang tăng trong bối cảnh sản lượng khai thác giảm.

Theo undercurrentnews

Ô nhiễm đe dọa nuôi trồng hải sản

4-chan-1478874875662636147316179474512Ngày 11/11, tại hội thảo “Phát triển nuôi trồng thủy sản biển” do Tổng cục Thủy sản (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) tổ chức ở TP Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, ông Trần Đình Luân – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản – cho rằng nghề nuôi biển đang đối diện với nhiều thách thức, trong đó nghiêm trọng nhất là vấn đề ô nhiễm môi trường ven biển.

Tại hội thảo, ông Trần Công Khôi, Phó Vụ trưởng Vụ Nuôi trồng thủy sản, cho biết tiềm năng nuôi trồng thủy sản biển ở nước ta rất lớn với gần 250.000 ha, trong khi đó diện tích nuôi trồng hiện nay chỉ đạt 40.000 ha. Đáng chú ý, nghề nuôi cá biển đối mặt nhiều rủi ro khi sản lượng sụt giảm từ 34.413 tấn (năm 2012) còn 30.550 tấn (năm 2015).

Theo ông Khôi, việc nuôi trồng hải sản thiếu quy hoạch, trình độ kỹ thuật, sản xuất kém, gây ô nhiễm môi trường, phát triển thiếu bền vững. Bên cạnh đó, quá trình phát triển kinh tế – xã hội khiến môi trường ven biển ngày càng bị ô nhiễm. Điều này khiến thời gian qua hải sản nuôi trồng ven bờ chết liên tục tại Khánh Hòa, Bình Thuận, Bà Rịa – Vũng Tàu, Phú Yên… làm người nuôi điêu đứng.

Ông Nguyễn Quang Huy, Viện phó Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1, cho rằng dịch bệnh thường xuyên xảy ra ở các vùng biển ô nhiễm môi trường, mật độ ô lồng cao. Ngoài ra, sự cố môi trường Formosa từ Hà Tĩnh đến Thừa Thiên – Huế vừa qua sẽ khiến chất lượng, sản lượng nuôi trồng thủy sản biển ở đây giảm.

Cùng quan điểm trên, ông Nguyễn Tự Trọng, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn TP Hải Phòng, cho rằng các mối nguy hại từ các KCN, hoạt động xây dựng, du lịch… đã đe dọa nghề nuôi thủy sản. Như ở đảo Cát Bà, đây là điểm nuôi trồng lớn với trên 500 lồng, sắp tới phải giảm xuống còn trên 100 lồng.

Ông Phạm Đức Phương, quản lý trại nuôi cá biển quy mô công nghiệp tại vịnh Vân Phong (tỉnh Khánh Hòa) của Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1, cho biết viện đầu tư 12 tỉ đồng xây dựng trại nuôi biển quy mô sản xuất 200-300 tấn/năm với công nghệ lồng bè bằng nhựa của Na Uy. Hệ thống này có khả năng chịu sóng gió, giảm thiểu nguy cơ ô nhiễm. Tại Khánh Hòa thời gian qua hải sản nuôi chết hàng loạt ở rất nhiều nơi nhưng trại nuôi này nuôi rất xa bờ nên không bị ảnh hưởng. Tuy vậy, chi phí khá cao, để áp dụng công nghệ mới này thực sự cần sự hỗ trợ, chính sách của Chính phủ.

(báo Người Lao động)

Hạch toán kinh tế chăn nuôi heo thịt công nghiệp trại 1000 con

Hiện nay chăn nuôi heo thịt theo hình thức công nghiệp đang được bà con chăn nuôi áp dụng rộng rãi và mang lại hiệu quả kinh tế cao. Ngành chăn nuôi heo nước ta đang dần lớn mạnh đáp ứng xu thế cạnh tranh của thị trường ngày càng lớn và nhu cầu trong nước ngày một tăng cao.

Chăn nuôi heo theo hình thức công nghiệp đòi hỏi người chăn nuôi cần có kinh nghiệm cũng như nắm được nhu cầu của thị trường chăn nuôi.
Hạch toán nuôi heo
Sau một thời gian tiếp cận các trại chăn nuôi tại khu vực Hưng Yên và Hải Dương chúng tôi đã tổng hợp được những thông tin hữu ích, giúp bạn đọc có cái nhìn cụ thể hơn về tình hình chăn nuôi cũng như những rủi ro thường gặp của những hộ chăn nuôi heo.
Sau bài viết hạch toán kinh tế chăn nuôi heo thịt tại nông hộ, chúng tôi tiếp tục đưa ra bài viết hạch toán chăn nuôi heo thịt công nghiệp để bạn đọc có cái tổng quan hơn về ngành chăn nuôi heo.
Trong bài viết này chúng tôi chỉ hạch toán chăn nuôi heo thịt công nghiệp, với các chi phí con giống, thức ăn, thuốc thú y mà không đưa hạch toán hao phí trại cũng như các nguồn thu từ phụ phẩm chăn nuôi.
1. Con giống
Với chăn nuôi heo thịt công nghiệp, do những chi phí ban đầu cao nên con giống được sử dụng cần đòi hỏi đáp ứng được tốc độ phát triển cũng như tỷ lệ nạc.
Hiện nay các giống heo siêu được sử dụng chủ yếu trong chăn nuôi heo thịt chủ yếu có máu Pietran, Duroc, Landrace và Yorkshire.
Giá một heo giống 10kg tại thị trường miền Bắc nước ta khoảng 1 – 1,4 triệu/con. Tại thị trường miền Nam giá heo này khoảng 100.000đ/kg (heo >20kg).
Như vậy giá giống cho một đầu heo giống 10kg khoảng 1,2 triệu/con → Với quy mô 1000 con heo thịt, chi phí giống hết 1.200.000 x 1000 = 1.200.000.000đ (1)
2. Thức ăn
Với heo giống được bắt ở 10kg ta vẫn cần úm heo trong 15 ngày đầu sau khi bắt.
Thức ăn cần thiết cho heo thịt công nghiệp theo khuyến cáo của các công ty thức ăn chăn nuôi gồm:
– Thức ăn hỗn hợp cho heo con: với 1 heo giai đoạn này sử dụng hết 25kg thức ăn với giá 18.00đ/kg → tiền thức ăn giai đoạn này 450.000đ.
– Thức ăn hỗn hợp cho heo giai đoạn heo thịt: giai đoạn nuôi thịt heo sử dụng khoảng 125kg với giá 13.200đ/kg → 1.650.000đ .
– Thức ăn hỗn hợp cho heo giai đoạn xuất bán: heo giai đoạn này thường sử dụng khoảng 25kg thức ăn có giá khoảng 12.000đ/kg → số tiền thức ăn hết 300.000đ
Sản xuất một heo thịt từ 10kg tới 100kg hơi chi phí thức ăn là: 450.000 + 1.650.000 +300.000 = 2.400.00đ.
→ Để nuôi 1000 heo thịt theo phương thức an toàn sinh học (cùng vào cùng ra) chi phí thức ăn khoảng 2.400.000 x 1000 = 2.400.000.000đ (2).
3. Thuốc thú y
Trong chăn nuôi hiện nay vai trò của thú y chiếm một vị thế quan trọng và không thể thiếu trong chăn nuôi hiện nay.
Với quy trình phòng bệnh hiện nay chi phí cho 1 heo nuôi thịt từ lúc 10kg tới khi xuất chuồng khoảng 180.000đ/con trong đó chi phí vaccine khoảng 80.000đ (10.000đ vaccine dịch tả, 25.000đ vaccine suyễn, 30.000đ vaccine PRRS, 25.000đ vaccine LMLM), 100.000đ chi phí cho việc phòng kháng sinh và thuốc bổ cho heo.
→ Như vậy để nuôi 1000 heo thịt chi phí thuốc thú y khoảng 180.000.000đ.
Ngoài ra trại cần thiết có 1 kỹ thuật, hiện nay trả lương cho 1 kỹ thuật khoảng 5.000.000đ/tháng. Một lứa heo khoảng 4 tháng → chi phí cho kỹ thuật 4 x 5.000.000 = 20.000.000đ.
Tổng chi phí thú y khoảng 180.000.000 + 20.000.000 = 200.000.000đ (3)
4. Chi phí nhân công
Với trại quy mô 1000 heo thịt cần 2 công nhân.
Lương trả cho 1 công nhân khoảng 3.000.000đ/tháng → 2 công nhân 6.000.000đ/tháng → 6.000.000 x 4 = 24.000.000đ (4)
5. Chi phí điện nước
Chi phí tiền điện nước để vận hành trại gồm có, điện thắp sáng, điện úm heo, điện chạy dàn mát, quạt . . . tất cả chi phí trên với trại kín quy mô 1000 heo thịt khoảng 5.000.000đ/tháng.
Một lứa heo nuôi khoảng gần 4 tháng, như vậy chi phí tiền điện hết khoảng 4x 5.000.000 = 20.000.000đ (5)
→ Tổng chi phí trong chăn nuôi heo thịt công nghiệp chưa tính tới hao phí chuông nuôi là: (1) + (2) + (3) + (4) + (5 ) = 3.800.000.000đ.
6. Tổng thu
Tiền thu từ bán heo: 100kg/1heo với giá hiện nay khoảng 50.000đ/kg. Với trại quy mô công nghiệp nuôi 1000 con tỷ lệ chết khoảng 5%.
Như vậy ta có thể tính thu từ việc bán heo như sau. (1000 x 95%) x 100 x 50.000 = 4.750.000.000đ
Hạch toán chăn nuôi lợn
Như vậy chăn nuôi heo thịt theo hướng công nghiệp, giảm chi phí và nâng cao hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi.
Với 1000 heo thịt, mỗi lứa tiền lời khoảng 4.750.000.000 – 3.800.000.000 = 950.000.000đ. Tuy nhiên trong bài viết này chúng tôi chưa tính tới khấu hao chuồng trại, rủi ro trong chăn nuôi, lãi ngân hàng khi huy động vốn và nhiều chi phí phát sinh khác.
Trong bài viết này tất cả các số liệu đều được tham khảo thực tế chăn nuôi tháng 12/2014. Khi áp dụng vào điều kiện chăn nuôi mỗi trang trại ta có số liệu chi phí tại mỗi thời điểm và mỗi trại là khác nhau vì vậy cần có sự thay đổi sao cho phù hợp với mỗi trại.
Việc chăn nuôi heo thịt theo hướng công nghiệp với chi phí cố định lớn nhưng hiệu quả kinh tế cao do thời gian chăn nuôi thấp khoảng hơn 3 tháng và giá heo bán được lớn hơn rất nhiều so với giá heo tại nông hộ (heo lai).Việc chuyển hướng sang sử dụng các giống heo ngoại (heo siêu) cho năng xuất cao đang được rất nhiều hộ chăn nuôi sử dụng đã mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Theo VietDVM

FAO dự báo sản lượng và giá thủy sản thế giới tới năm 2025

seafoodTheo Báo cáo năm 2016 của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO), dự báo đến năm 2021, sản lượng nuôi trồng thủy sản sẽ tăng vượt sản lượng khai thác. Giá thủy sản trong vài năm tới sẽ giảm vì kinh tế tăng trưởng chậm, tuy nhiên sẽ phục hồi vào 5 năm cuối của giai đoạn 2016 – 2025 vì dự đoán cầu sẽ vượt cung.

Sản lượng

Theo dự báo của FAO, đến năm 2015, tổng sản lượng thủy sản thế giới đạt 196 triệu tấn, tăng 17% so với giai đoạn 2013 – 2015, nhưng mức tăng trưởng chậm hơn so với thập kỷ trước (1,5% so với 2,5%). Về khối lượng tăng 29 triệu tấn so với mức trung bình năm 2013 – 2015.

Sản lượng tăng chủ yếu từ các nước đang phát triển, chiếm 85% trong năm 2015, tăng từ mức 83%. Thị trường mở rộng nhiều hơn ở châu Á, tỷ trọng trọng tổng sản lượng tăng từ 70% lên 73%. Trong số 29 triệu tấn sản lượng tăng lên, sẽ có 25 triệu tấn sản xuất ở châu Á, 1,8 triệu tấn ở Mỹ Latinh và Caribe, 1,6 triệu tấn ở châu Phi, 0,7 triệu tấn ở châu Âu và số còn lại ở châu Đại Dương và Bắc Mỹ. Khoảng 91% tổng sản lượng, khoảng 178 triệu tấn sẽ dùng cho tiêu thụ thực phẩm.

Nhu cầu tăng sẽ được bù đắp chủ yếu bằng tăng trưởng nguồn cung thủy sản nuôi trồng, dự kiến đạt 102 triệu tấn vào năm 2025, tăng 39% so với giai đoạn trước. Nuôi trồng thủy sản vẫn là một trong những lĩnh vực tăng trưởng nhanh nhất để sản xuất thức ăn chăn nuôi, mặc dù mức tăng trưởng hàng năm ước giảm từ 5,4% trong thập kỷ trước xuống 3% trong giai đoạn này. Tăng trưởng chậm chủ yếu là do nguồn cung giảm và chất lượng nước không tốt; sự cạnh tranh sử dụng các khu vực sản xuất tối ưu; nguồn cung con giống và thức ăn đảm bảo chất lượng và số lượng; không đủ đầu tư vào cơ sở hạ tầng ở các khu vực có nguồn tài nguyên thiên nhiên để sản xuất thủy sản nuôi; khó khăn về vốn; và thách thức trong quản trị và khung pháp lý. Ngoài ra, nếu giảm nhẹ, nhưng giá bột cá, dầu cá và các thức ăn khác vẫn cao sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến sản xuất (vì chỉ có khoảng 30% các loài không cần thức ăn đặc). Các nước đang phát triển vẫn giữ vai trò quan trong trong nuôi trồng thủy sản, chiếm 95% tổng sản lượng. Ước tính những nước này chiếm 96% phần sản lượng tăng lên trong giai đoạn này.

Tuy nhiên, sản lượng nuôi trồng thủy sản có thể tiếp tục tăng ở các nước phát triển (tăng 26% trong thập kỷ tới) ở tất cả các lục địa, với mức độ tăng khác nhau ở từng khu vực, từng nước và từng loài. Các nước châu Á vẫn là những nước sản xuất chính, chiếm 89% tổng sản lượng trong năm 2025, riêng Trung Quốc chiếm 62% tổng sản lượng của thế giới. Sản lượng cũng tăng ở Mỹ Latinh, nhất là Brazil (dự kiến tăng 104%) do có chiến dịch đầu tư lớn cho ngành này. Sản lượng ở châu Phi dự kiến tăng 35% đạt 2,3 triệu tấn, một phần nhờ tăng công suất trong những năm gần đây, một phần nhờ nhu cầu trong nước tăng khi kinh tế tăng trưởng và nhờ chính sách khuyến khích nuôi trồng thủy sản ở trong nước.

Các loài nuôi nước ngọt như cá chép, cá da trơn (bao gồm cá tra) và cá rô phi sẽ chiếm phần lớn mức tăng sản lượng nuôi trồng, chiếm khoảng 60% tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản vào năm 2025. Sản lượng các loài có giá trị cao hơn như tôm, cá hồi salmon và trout dự kiến tiếp tục tăng trong thập kỷ tới.

Tỷ trọng của thủy sản nuôi trồng trong tổng sản lượng thủy sản sẽ tăng từ 44% trong giai đoạn 2013 – 2015 đến 52% trong năm 2025 và sẽ vượt tỷ trọng của thủy sản khai thác từ năm 2021. Sự phát triển này mở ra một kỷ nguyên mới cho thấy nuôi trồng thuỷ sản ngày càng chi phối sự thay đổi của ngành thủy sản. Tuy nhiên, ngành khai thác vẫn giữ vị trí quan trọng đối với một số loài và có ý nghĩa đối với an ninh lương thực quốc tế và nội địa. Sản lượng thủy sản khai thác dự kiến tăng 1% đạt 94 triệu tấn vào năm 2025. Mức tăng nhẹ này có nhiều nguyên nhân: như phụ thuộc vào tiến trình đạt mục tiêu SDH, bao gồm: phục hồi trữ lượng một số loài sau khi một số nước cải thiện cơ chế quản lý, một số nước không bị áp hạn ngạch sản lượng vẫn tăng khai thác; giá xăng dầu giảm, và tăng hiệu quả tận dụng sản lượng qua việc giảm lãng phí cá vụn, chất thải và thất thoát theo quy định và do tác động từ giá thủy sản tăng (trong đó có giá bột cá và dầu cá). Ở giai đoạn đầu của thập kỷ tới, sản lượng khai thác sẽ không tăng nhiều do ảnh hưởng của thời tiết El Nino đối với khu vực Nam Mỹ. Trong 10 năm tới, hiện tượng thời tiết này sẽ làm giảm 2% sản lượng khai thác của thế giới, tác động nhiều hơn đối với sản lượng cá cơm của Peru và Chile.

Đến năm 2025, tỷ lệ sản lượng thủy sản khai thác được để sản xuất bột cá sẽ khoảng 16%, thấp hơn 1% so với giai đoạn trước. Nguyên nhân do nhu cầu thủy sản làm thực phẩm tăng đối với những loài trước kia dùng làm bột cá, dầu cá; nguồn nguyên liệu khan hiếm hơn và ngày càng sử dụng nhiều phụ phẩm để sản xuất bột cá. Tỷ lệ sản lượng khai thác dùng sản xuất bột cá và dầu cá sẽ giảm nhẹ trong những năm đầu khi có hiện tượng thời tiết El Nino do sản lượng đánh bắt cá cơm giảm. Tới năm 2025, sản lượng bột cá và dầu cá có thể đạt 5,1 triệu tấn và 1,0 triệu tấn. Sản lượng bột cá sẽ tăng 15% so với mức trung bình của những năm 2013 – 15, nhưng khoảng 96% mức tăng được sản xuất từ cá vụn, phụ phẩm từ cá chế biến. Vì ngày càng nhiều sản lượng cá để dành cho việc chế biến phile và các dạng chế biến khác nên tỷ lệ phụ phẩm như đầu, đuôi, xương và nội tạng sau chế biến sẽ tăng lên, được đưa vào để sản xuất bột cá và dầu cá. Bột cá sản xuất từ phụ phẩm chế biến cá sẽ chiếm 38% sản lượng bột cá thế giới trong năm 2025, so với 29% trong giai đoạn 2013 – 15. Sử dụng phụ phẩm từ chế biến cá có thể ảnh hưởng đến thành phần và chất lượng bột cá và dầu cá: ít đạm hơn, nhiều khoáng chất và tăng axit amino (như glycine, proline, hydroxyproline) hơn so với sản phẩm chế biến từ cá nguyên con. Đây có thể là nguyên nhân làm giảm tiêu thụ bột cá và dầu cá trong thức ăn nuôi thủy sản và gia súc. Tuy nhiên, sự thay đổi này không đáng kể.

Giá

Năm 2015, giá trung bình thủy sản thấp hơn so với năm 2014. Dự kiến trong thập kỷ tới, các yếu tố chính tác động đến giá thủy sản thế giới sẽ là: thu nhập, mức tăng dân số và giá thịt, xét về khía cạnh nhu cầu; sản lượng khai thác tăng ít, giá thức ăn nuôi thủy sản, điện và xăng, dầu…xét về khía cạnh cung. Về danh nghĩa, giá thủy sản dự kiến tiếp tục giảm trong giai đoạn đầu do tăng trường kinh tế chậm hơn, nhu cầu giảm ở một số thị trường chính và chi phí đầu vào giảm. Tuy nhiên, trong 5 năm cuối của giai đoạn này, giá sẽ ổn định và tăng nhẹ, sau đó sẽ giữ ở mức cao vào cuối giai đoạn. Tới năm 2025, giá sản xuất trung bình dự kiến tăng nhự so với giai đoạn 2013 – 15 vì nhu cầu sẽ vượt cung. Tuy nhiên giá trung bình thủy sản tiêu thụ làm thực phẩm, giá dầu cá và bột cá sẽ giảm chút so với mức đỉnh 2014 nhưng vẫn khá cao.

Thủy sản khai thác vẫn bị hạn chế hạn ngạch, trong khi nhu cầu một số loài vẫn ổn định, do vậy dự kiến tới năm 2015, giá trung bình thủy sản khai thác (bao gồm cá làm bột cá, dầu cá) sẽ tăng mạnh hơn giá thủy sản nuôi (tăng 7% so với thủy sản nuôi là 2%) so với giai đoạn 2013 – 15 và mức tăng trung bình hàng năm tương ứng là 1% và 0,8%. Tuy nhiên nhìn chung giá thủy sản khai thác vẫn thấp hơn thủy sản nuôi, có thể do tỷ lệ cá khai thác giá trị thấp cao hơn. Giá thủy sản nuôi tăng ít hơn một phần do giá thức giảm sau khi tăng kỷ lục vào những năm 2011 – 12 và do hệ số chuyển đổi thức ăn cao hơn và năng suất cao hơn (dù vẫn thấp hơn so với những thập kỷ trước nữa). Giá thực tế thủy sản khai thác và thủy sản nuôi dự kiến đều giảm 13% và 17% trong giai đoạn này.

Giá bột cá đã tăng mạnh từ năm 2006 đến 2013 đạt tới 1.747 USD/tấn vào năm 2013. Sau đó, dù đã giảm nhẹ nhưng giá vẫn cao. Đến năm 2025, giá trung bình bột cá dự kiến giảm 14% về danh nghĩa và giá thực tế giảm 30%. Riêng những năm có hiện tương El Nino sản lượng khai thác ở Nam Mỹ giảm, chủ yếu là cá cơm, sẽ làm giảm sản lượng bột cá và dầu cá. Từ mức cao đỉnh điểm, giá dầu cá dự kiến giảm trong giai đoạn 2016 – 2025, nhưng vẫn cao hơn so với giá bột cá. Giá danh nghĩa trung bình dầu cá dự kiến giảm 3% và thực tế sẽ giảm 21%.

Giá tiêu thụ thủy sản cũng sẽ giảm trong giai đoạn tới, với mức giảm danh nghĩa 5% và giảm thực tế 25%. Các yếu tố chính tác động giảm là giá cạnh tranh của các sản phẩm thay thế, nhất là thịt gà, nhu cầu của các thị trường giảm do tăng trưởng kinh tế chậm, giá sản xuất và bán các sản phẩm nuôi giảm vì chi phí vận chuyển và thức ăn hạ.

Nhờ thuế NK ở mức tối thiểu hoặc mức thấp ở những nước phát triển nên thương mại thủy sản quốc tế vẫn khá tự do và sự biến động giá có thể tác động từ thị trường này sang thị trường khác. Tuy nhiên, ở nhiều nước đang phát triển, thuế NK và giấy phép NK vẫn là vấn đề. Biến động giá trên thị trường quốc tế sẽ có hiệu ứng lan tỏa đối với cả các loài không giao dịch thương mại nhiều.

Đối với từng loài, biến động giá có thể rõ rệt hơn do sự thay đổi nguồn cung trước những điều chỉnh đáng kể về hạn ngạch khai thác và dịch bệnh đối với thủy sản nuôi, cũng như biến động giá thức ăn nuôi.

Nguồn: Vasep

Chào bán bột cá biển nguyên chất (Cá Ngừ) 55% đạm

Cơ sở sản xuất bột cá Nguyễn Thị Sậu chào bán bột cá biển nguyên chất (cá Ngừ) 55% đạm, không pha tạp chất, có mùi thơm đặc trưng của cá ngừ.

Hãy gọi cho chúng tôi theo số: 0949.333.288 để được tư vấn và biết giá cả. Trân thành cảm ơn quý khách hàng.

Hình ảnh bột cá Ngừ:

Bột cá biển, bột cá Ngừ sấy khô 55% độ đạm, 10% độ ẩm

Bột cá biển, bột cá Ngừ sấy khô 55% độ đạm, 10% độ ẩm

Phiếu kết quả thử nghiệm bột cá Ngừ:

Phiếu kết quả thử nghiệm bột cá biển (Cá Ngừ) 55 đạm.

Phiếu kết quả thử nghiệm bột cá biển (Cá Ngừ) 55 đạm.

Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia lĩnh vực thức ăn chăn nuôi

Nhằm kiểm soát chặt chẽ chất lượng thức ăn chăn nuôi, đặc biệt về giới hạn cho phép các yếu tố tác động, Bộ NN&PTNT đã ban hành quy chuẩn mới, áp dụng thực hiện từ ngày 26/1/2017.

Tại Thông tư số 27/2016/TT-BNNPTNT, Bộ NN&PTNT đã quy định giới hạn tối đa cho phép hàm lượng độc tố nấm mốc, kim loại nặng và vi sinh vật trong thức ăn hỗn hợp gia súc, gia cầm. Thông tư này có hiệu lực được giữ nguyên giá trị hiệu lực công bố trong thời hạn 3 năm kể từ ngày Sở NN&PTNT ban hành thông tư tiếp nhận công bố hợp quy.

quy định giới hạn cho phép trong thức ăn chăn nuôi - chăn nuôi

Quy chuẩn mới quy định giới hạn tối đa cho phép các yếu tố tác động trong thức ăn hỗn hợp gia súc, gia cầm Ảnh: Hải Linh

Theo đó, quy định giới hạn các yếu tố trên trong thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh và thức ăn đậm đặc cho lợn, gà, chim cút, ngan, vịt; thức ăn tinh hỗn hợp cho bê và bò thịt. Áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có hoạt động liên quan đến kinh doanh thức ăn chăn nuôi cho gia súc, gia cầm tại Việt Nam.

Cụ thể, hàm lượng tối đa cho phép độc tố Aflatoxin tổng số trong thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh và thức ăn đậm đặc cho lợn, gà, chim cút, vịt, ngan; thức ăn tinh hỗn hợp cho bê và bò thịt được quy định như sau:

hàm lượng aflatoxin cho phép trong thức ăn chăn nuôi - chăn nuôi

Lưu ý: Lợn con: từ 1 đến 45 ngày tuổi hoặc từ sơ sinh đến 15kg.

Gà, chim cút, vịt và ngan con: Từ 1 đến 28 ngày tuổi

Bê: Dưới 6 tháng tuổi.

Về yếu tố kim loại nặng: Được quy định riêng với từng loại. Với thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh và thức ăn tinh hỗn hợp cho bê, bò thịt, được quy định như sau:

kim loại nặng trong thức ăn chăn nuôi - chăn nuôi

 

Đối với thức ăn đậm đặc: Hàm lượng một số nguyên tố kim loại nặng tối đa cho phép trong thức ăn đậm đặc cho lợn, gà, chim cút, vịt và ngan được tính bằng công thức sau: A = (B x 100)/C, trong đó: A là hàm lượng một nguyên tố kim loại nặng tối đa cho phép trong thức ăn đậm đặc (mg/kg hoặc ppm); B là hàm lượng nguyên tố kim loại nặng tối đa cho phép trong thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh tương ứng quy định trong Quy chuẩn kỹ thuật này (mg/kg hoặc ppm); C là tỷ lệ tối đa thức ăn đậm đặc dùng để phối trộn (%) theo hướng dẫn sử dụng được công bố hoặc ghi trên nhãn.

Với vi sinh vật, tổng số vi sinh vật tối đa cho phép trong thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh và thức ăn đậm đặc cho lợn, gà, chim cút, vịt, ngan; thức ăn tinh hỗn hợp cho bê và bò thịt được quy định như sau:

tổng vi sinh vật cho phép trong thức ăn - chăn nuôi

Theo quy định tại Thông tư này, thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh và thức ăn đậm đặc cho lợn, gà, chim cút, vịt, ngan; thức ăn tinh hỗn hợp cho bê và bò thịt của các tổ chức, cá nhân quy định tại mục 1.2 của Quy chuẩn phải đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật quy định tại Quy chuẩn này.

Cùng đó, trước khi lưu thông trên thị trường, tổ chức, cá nhân kinh doanh thức ăn chăn nuôi quy định tại mục 1.2 của Quy chuẩn này phải làm thủ tục công bố hợp quy tại Sở NN&PTNT địa phương nơi tổ chức, cá nhân đăng ký hoạt động sản xuất, kinh doanh theo quy định.

Phương thức đánh giá hợp quy: Đánh giá theo phương thức 5 hoặc phương thức 7 quy định tại Thông tư số 55/2012/TT-BNNPTNT ngày 31/10/2012 hướng dẫn thủ tục chỉ định tổ chức chứng nhận hợp quy và công bố hợp quy thuộc phạm vi quản lý của Bộ NN&PTNT.

Mỗi sản phẩm công bố hợp quy phải được lấy mẫu thử nghiệm để đánh giá sự phù hợp đối với tất cả các chỉ tiêu quy định tại Quy chuẩn kỹ thuật này.

Trong thời gian hiệu lực của kết luận về sự phù hợp, mỗi sản phẩm công bố hợp quy phải được lấy mẫu để đánh giá giám sát với tần suất không quá 12 tháng/lần và thử nghiệm tất cả các chỉ tiêu quy định tại Quy chuẩn kỹ thuật này với tần suất ít nhất 3 năm/lần/chỉ tiêu.

Nguồn: Người chăn nuôi

%d bloggers like this: