Bột Cá Biển

Cung cấp Bột cá Ngừ sấy khô với độ đạm 55%, 60% độ ẩm 10%

Lệnh cấm khai thác cá ngừ tại Thái Bình Dương có hiệu lực

pacificbluetuna5918636160939391518732Lệnh cấm khai thác lần thứ 2 được thiết lập nhằm bảo vệ các loài cá ngừ khác nhau tại vùng biển Thái Bình Dương đã có hiệu lực từ ngày 18/11/2016.

Lệnh cấm khai thác sẽ kéo dài tới ngày 18/01/2017. Lệnh cấm đầu tiên được thực hiện từ ngày 29/7 đến ngày 28/9/2016.

Những lệnh cấm này giúp bảo vệ các giai đoạn sinh học nhạy cảm nhất của các loài, với mục đích đảm bảo rằng các loài này tồn tại đến mùa khai thác sau nhằm mục đích duy trì hoạt động, và góp phần vào an ninh lương thực trong cũng như ngoài nước, và các lợi ích khác.

Tại Mexico, nghề khai thác cá ngừ được quy định bởi NOM-001-SAG/PESC-2013, trong đó thiết lập các thông số kỹ thuật đối vơi hoạt động khai thác cá ngừ của các tàu lưới vây, cũng như thiết lập các giai đọan cấm khai thác.

Theo số liệu thống kê của Ủy ban Cá ngừ nhiệt đới khu vực Bắc – Nam Mỹ (IATTC), tính đến ngày 02/10. Các tàu cá ngừ của Mexico đã đánh bắt 96.354 tấn cá ngừ, tương đương 19,5% tổng sản lượng khai thác đã đăng ký tại khu vực Đông Thái Bình Dương (EPO).

Cá ngừ vây vàng chiếm phần lớn sản lượng khai thác của Mexico, đạt 79.032 tấn. Tiếp đến là cá ngừ vằn, đạt 10.393 tấn, cá ngừ chấm đạt 3.489 tấn, và cá ngừ vây xanh Thái Bình Dương đạt 2.904 tấn.

Sản lượng khai thác của các tàu Mexico chỉ vượt ngưỡng của Ecuador, nước trong 9 tháng đầu năm 2016 sản lượng khai thác đạt 211.739 tấn.

(Theo Fis)

Tháng 12/2016: Giá cá ngừ vằn thế giới tăng

ca-ngu-van636162865132904781Tháng 12/2016, giá cá ngừ vằn giao tại Bangkok, Thái Lan tăng cao hơn so với tháng 11 do hoạt động khai thác tại Tây Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương trầm lắng.

Thông thường, giá cá ngừ vằn giảm trong tháng 12 do người dân có xu hướng không ăn cá ngừ hộp.

Thông tin giá tăng có thể ảnh hưởng tới tất cả các nhà NK cá ngừ vằn ở Ấn Độ Dương, Tây Ban Nha, Ecuador, Colombia và một số nước khác.

Giá cá ngừ vằn ở Bangkok trong tháng 12 năm nay đạt mức 1.500 USD/tấn (giá C&F), tăng từ 1.350-1.400 USD/tấn trong tháng 11 và 1.100-1.200 USD/tấn thời điểm trước đó trong năm nay. Mặc dù vậy, mức giá của tháng 12 vẫn thấp hơn mức 1.600 USD/tấn hồi tháng 4.

Nguồn cung cá ngừ hiện tại khá thấp do sản lượng khai thác ở Tây Thái Bình Dương (WPO) trong tháng 10 giảm và ngư trường ở Đông Thái Bình Dương (ETP) đóng cửa.

Đối với nhiều công ty đóng hộp cá ngừ ở Thái Lan, thông tin giá tăng khiến họ không mấy vui mừng do giá nguyên liệu đầu vào tăng và có thể làm xấu thêm các vấn đề tài chính của họ.

Giá cá ngừ tại Ecuador cũng đang tăng trong bối cảnh sản lượng khai thác giảm.

Theo undercurrentnews

Ô nhiễm đe dọa nuôi trồng hải sản

4-chan-1478874875662636147316179474512Ngày 11/11, tại hội thảo “Phát triển nuôi trồng thủy sản biển” do Tổng cục Thủy sản (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) tổ chức ở TP Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, ông Trần Đình Luân – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản – cho rằng nghề nuôi biển đang đối diện với nhiều thách thức, trong đó nghiêm trọng nhất là vấn đề ô nhiễm môi trường ven biển.

Tại hội thảo, ông Trần Công Khôi, Phó Vụ trưởng Vụ Nuôi trồng thủy sản, cho biết tiềm năng nuôi trồng thủy sản biển ở nước ta rất lớn với gần 250.000 ha, trong khi đó diện tích nuôi trồng hiện nay chỉ đạt 40.000 ha. Đáng chú ý, nghề nuôi cá biển đối mặt nhiều rủi ro khi sản lượng sụt giảm từ 34.413 tấn (năm 2012) còn 30.550 tấn (năm 2015).

Theo ông Khôi, việc nuôi trồng hải sản thiếu quy hoạch, trình độ kỹ thuật, sản xuất kém, gây ô nhiễm môi trường, phát triển thiếu bền vững. Bên cạnh đó, quá trình phát triển kinh tế – xã hội khiến môi trường ven biển ngày càng bị ô nhiễm. Điều này khiến thời gian qua hải sản nuôi trồng ven bờ chết liên tục tại Khánh Hòa, Bình Thuận, Bà Rịa – Vũng Tàu, Phú Yên… làm người nuôi điêu đứng.

Ông Nguyễn Quang Huy, Viện phó Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1, cho rằng dịch bệnh thường xuyên xảy ra ở các vùng biển ô nhiễm môi trường, mật độ ô lồng cao. Ngoài ra, sự cố môi trường Formosa từ Hà Tĩnh đến Thừa Thiên – Huế vừa qua sẽ khiến chất lượng, sản lượng nuôi trồng thủy sản biển ở đây giảm.

Cùng quan điểm trên, ông Nguyễn Tự Trọng, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn TP Hải Phòng, cho rằng các mối nguy hại từ các KCN, hoạt động xây dựng, du lịch… đã đe dọa nghề nuôi thủy sản. Như ở đảo Cát Bà, đây là điểm nuôi trồng lớn với trên 500 lồng, sắp tới phải giảm xuống còn trên 100 lồng.

Ông Phạm Đức Phương, quản lý trại nuôi cá biển quy mô công nghiệp tại vịnh Vân Phong (tỉnh Khánh Hòa) của Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1, cho biết viện đầu tư 12 tỉ đồng xây dựng trại nuôi biển quy mô sản xuất 200-300 tấn/năm với công nghệ lồng bè bằng nhựa của Na Uy. Hệ thống này có khả năng chịu sóng gió, giảm thiểu nguy cơ ô nhiễm. Tại Khánh Hòa thời gian qua hải sản nuôi chết hàng loạt ở rất nhiều nơi nhưng trại nuôi này nuôi rất xa bờ nên không bị ảnh hưởng. Tuy vậy, chi phí khá cao, để áp dụng công nghệ mới này thực sự cần sự hỗ trợ, chính sách của Chính phủ.

(báo Người Lao động)

Hạch toán kinh tế chăn nuôi heo thịt công nghiệp trại 1000 con

Hiện nay chăn nuôi heo thịt theo hình thức công nghiệp đang được bà con chăn nuôi áp dụng rộng rãi và mang lại hiệu quả kinh tế cao. Ngành chăn nuôi heo nước ta đang dần lớn mạnh đáp ứng xu thế cạnh tranh của thị trường ngày càng lớn và nhu cầu trong nước ngày một tăng cao.

Chăn nuôi heo theo hình thức công nghiệp đòi hỏi người chăn nuôi cần có kinh nghiệm cũng như nắm được nhu cầu của thị trường chăn nuôi.
Hạch toán nuôi heo
Sau một thời gian tiếp cận các trại chăn nuôi tại khu vực Hưng Yên và Hải Dương chúng tôi đã tổng hợp được những thông tin hữu ích, giúp bạn đọc có cái nhìn cụ thể hơn về tình hình chăn nuôi cũng như những rủi ro thường gặp của những hộ chăn nuôi heo.
Sau bài viết hạch toán kinh tế chăn nuôi heo thịt tại nông hộ, chúng tôi tiếp tục đưa ra bài viết hạch toán chăn nuôi heo thịt công nghiệp để bạn đọc có cái tổng quan hơn về ngành chăn nuôi heo.
Trong bài viết này chúng tôi chỉ hạch toán chăn nuôi heo thịt công nghiệp, với các chi phí con giống, thức ăn, thuốc thú y mà không đưa hạch toán hao phí trại cũng như các nguồn thu từ phụ phẩm chăn nuôi.
1. Con giống
Với chăn nuôi heo thịt công nghiệp, do những chi phí ban đầu cao nên con giống được sử dụng cần đòi hỏi đáp ứng được tốc độ phát triển cũng như tỷ lệ nạc.
Hiện nay các giống heo siêu được sử dụng chủ yếu trong chăn nuôi heo thịt chủ yếu có máu Pietran, Duroc, Landrace và Yorkshire.
Giá một heo giống 10kg tại thị trường miền Bắc nước ta khoảng 1 – 1,4 triệu/con. Tại thị trường miền Nam giá heo này khoảng 100.000đ/kg (heo >20kg).
Như vậy giá giống cho một đầu heo giống 10kg khoảng 1,2 triệu/con → Với quy mô 1000 con heo thịt, chi phí giống hết 1.200.000 x 1000 = 1.200.000.000đ (1)
2. Thức ăn
Với heo giống được bắt ở 10kg ta vẫn cần úm heo trong 15 ngày đầu sau khi bắt.
Thức ăn cần thiết cho heo thịt công nghiệp theo khuyến cáo của các công ty thức ăn chăn nuôi gồm:
– Thức ăn hỗn hợp cho heo con: với 1 heo giai đoạn này sử dụng hết 25kg thức ăn với giá 18.00đ/kg → tiền thức ăn giai đoạn này 450.000đ.
– Thức ăn hỗn hợp cho heo giai đoạn heo thịt: giai đoạn nuôi thịt heo sử dụng khoảng 125kg với giá 13.200đ/kg → 1.650.000đ .
– Thức ăn hỗn hợp cho heo giai đoạn xuất bán: heo giai đoạn này thường sử dụng khoảng 25kg thức ăn có giá khoảng 12.000đ/kg → số tiền thức ăn hết 300.000đ
Sản xuất một heo thịt từ 10kg tới 100kg hơi chi phí thức ăn là: 450.000 + 1.650.000 +300.000 = 2.400.00đ.
→ Để nuôi 1000 heo thịt theo phương thức an toàn sinh học (cùng vào cùng ra) chi phí thức ăn khoảng 2.400.000 x 1000 = 2.400.000.000đ (2).
3. Thuốc thú y
Trong chăn nuôi hiện nay vai trò của thú y chiếm một vị thế quan trọng và không thể thiếu trong chăn nuôi hiện nay.
Với quy trình phòng bệnh hiện nay chi phí cho 1 heo nuôi thịt từ lúc 10kg tới khi xuất chuồng khoảng 180.000đ/con trong đó chi phí vaccine khoảng 80.000đ (10.000đ vaccine dịch tả, 25.000đ vaccine suyễn, 30.000đ vaccine PRRS, 25.000đ vaccine LMLM), 100.000đ chi phí cho việc phòng kháng sinh và thuốc bổ cho heo.
→ Như vậy để nuôi 1000 heo thịt chi phí thuốc thú y khoảng 180.000.000đ.
Ngoài ra trại cần thiết có 1 kỹ thuật, hiện nay trả lương cho 1 kỹ thuật khoảng 5.000.000đ/tháng. Một lứa heo khoảng 4 tháng → chi phí cho kỹ thuật 4 x 5.000.000 = 20.000.000đ.
Tổng chi phí thú y khoảng 180.000.000 + 20.000.000 = 200.000.000đ (3)
4. Chi phí nhân công
Với trại quy mô 1000 heo thịt cần 2 công nhân.
Lương trả cho 1 công nhân khoảng 3.000.000đ/tháng → 2 công nhân 6.000.000đ/tháng → 6.000.000 x 4 = 24.000.000đ (4)
5. Chi phí điện nước
Chi phí tiền điện nước để vận hành trại gồm có, điện thắp sáng, điện úm heo, điện chạy dàn mát, quạt . . . tất cả chi phí trên với trại kín quy mô 1000 heo thịt khoảng 5.000.000đ/tháng.
Một lứa heo nuôi khoảng gần 4 tháng, như vậy chi phí tiền điện hết khoảng 4x 5.000.000 = 20.000.000đ (5)
→ Tổng chi phí trong chăn nuôi heo thịt công nghiệp chưa tính tới hao phí chuông nuôi là: (1) + (2) + (3) + (4) + (5 ) = 3.800.000.000đ.
6. Tổng thu
Tiền thu từ bán heo: 100kg/1heo với giá hiện nay khoảng 50.000đ/kg. Với trại quy mô công nghiệp nuôi 1000 con tỷ lệ chết khoảng 5%.
Như vậy ta có thể tính thu từ việc bán heo như sau. (1000 x 95%) x 100 x 50.000 = 4.750.000.000đ
Hạch toán chăn nuôi lợn
Như vậy chăn nuôi heo thịt theo hướng công nghiệp, giảm chi phí và nâng cao hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi.
Với 1000 heo thịt, mỗi lứa tiền lời khoảng 4.750.000.000 – 3.800.000.000 = 950.000.000đ. Tuy nhiên trong bài viết này chúng tôi chưa tính tới khấu hao chuồng trại, rủi ro trong chăn nuôi, lãi ngân hàng khi huy động vốn và nhiều chi phí phát sinh khác.
Trong bài viết này tất cả các số liệu đều được tham khảo thực tế chăn nuôi tháng 12/2014. Khi áp dụng vào điều kiện chăn nuôi mỗi trang trại ta có số liệu chi phí tại mỗi thời điểm và mỗi trại là khác nhau vì vậy cần có sự thay đổi sao cho phù hợp với mỗi trại.
Việc chăn nuôi heo thịt theo hướng công nghiệp với chi phí cố định lớn nhưng hiệu quả kinh tế cao do thời gian chăn nuôi thấp khoảng hơn 3 tháng và giá heo bán được lớn hơn rất nhiều so với giá heo tại nông hộ (heo lai).Việc chuyển hướng sang sử dụng các giống heo ngoại (heo siêu) cho năng xuất cao đang được rất nhiều hộ chăn nuôi sử dụng đã mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Theo VietDVM

FAO dự báo sản lượng và giá thủy sản thế giới tới năm 2025

seafoodTheo Báo cáo năm 2016 của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO), dự báo đến năm 2021, sản lượng nuôi trồng thủy sản sẽ tăng vượt sản lượng khai thác. Giá thủy sản trong vài năm tới sẽ giảm vì kinh tế tăng trưởng chậm, tuy nhiên sẽ phục hồi vào 5 năm cuối của giai đoạn 2016 – 2025 vì dự đoán cầu sẽ vượt cung.

Sản lượng

Theo dự báo của FAO, đến năm 2015, tổng sản lượng thủy sản thế giới đạt 196 triệu tấn, tăng 17% so với giai đoạn 2013 – 2015, nhưng mức tăng trưởng chậm hơn so với thập kỷ trước (1,5% so với 2,5%). Về khối lượng tăng 29 triệu tấn so với mức trung bình năm 2013 – 2015.

Sản lượng tăng chủ yếu từ các nước đang phát triển, chiếm 85% trong năm 2015, tăng từ mức 83%. Thị trường mở rộng nhiều hơn ở châu Á, tỷ trọng trọng tổng sản lượng tăng từ 70% lên 73%. Trong số 29 triệu tấn sản lượng tăng lên, sẽ có 25 triệu tấn sản xuất ở châu Á, 1,8 triệu tấn ở Mỹ Latinh và Caribe, 1,6 triệu tấn ở châu Phi, 0,7 triệu tấn ở châu Âu và số còn lại ở châu Đại Dương và Bắc Mỹ. Khoảng 91% tổng sản lượng, khoảng 178 triệu tấn sẽ dùng cho tiêu thụ thực phẩm.

Nhu cầu tăng sẽ được bù đắp chủ yếu bằng tăng trưởng nguồn cung thủy sản nuôi trồng, dự kiến đạt 102 triệu tấn vào năm 2025, tăng 39% so với giai đoạn trước. Nuôi trồng thủy sản vẫn là một trong những lĩnh vực tăng trưởng nhanh nhất để sản xuất thức ăn chăn nuôi, mặc dù mức tăng trưởng hàng năm ước giảm từ 5,4% trong thập kỷ trước xuống 3% trong giai đoạn này. Tăng trưởng chậm chủ yếu là do nguồn cung giảm và chất lượng nước không tốt; sự cạnh tranh sử dụng các khu vực sản xuất tối ưu; nguồn cung con giống và thức ăn đảm bảo chất lượng và số lượng; không đủ đầu tư vào cơ sở hạ tầng ở các khu vực có nguồn tài nguyên thiên nhiên để sản xuất thủy sản nuôi; khó khăn về vốn; và thách thức trong quản trị và khung pháp lý. Ngoài ra, nếu giảm nhẹ, nhưng giá bột cá, dầu cá và các thức ăn khác vẫn cao sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến sản xuất (vì chỉ có khoảng 30% các loài không cần thức ăn đặc). Các nước đang phát triển vẫn giữ vai trò quan trong trong nuôi trồng thủy sản, chiếm 95% tổng sản lượng. Ước tính những nước này chiếm 96% phần sản lượng tăng lên trong giai đoạn này.

Tuy nhiên, sản lượng nuôi trồng thủy sản có thể tiếp tục tăng ở các nước phát triển (tăng 26% trong thập kỷ tới) ở tất cả các lục địa, với mức độ tăng khác nhau ở từng khu vực, từng nước và từng loài. Các nước châu Á vẫn là những nước sản xuất chính, chiếm 89% tổng sản lượng trong năm 2025, riêng Trung Quốc chiếm 62% tổng sản lượng của thế giới. Sản lượng cũng tăng ở Mỹ Latinh, nhất là Brazil (dự kiến tăng 104%) do có chiến dịch đầu tư lớn cho ngành này. Sản lượng ở châu Phi dự kiến tăng 35% đạt 2,3 triệu tấn, một phần nhờ tăng công suất trong những năm gần đây, một phần nhờ nhu cầu trong nước tăng khi kinh tế tăng trưởng và nhờ chính sách khuyến khích nuôi trồng thủy sản ở trong nước.

Các loài nuôi nước ngọt như cá chép, cá da trơn (bao gồm cá tra) và cá rô phi sẽ chiếm phần lớn mức tăng sản lượng nuôi trồng, chiếm khoảng 60% tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản vào năm 2025. Sản lượng các loài có giá trị cao hơn như tôm, cá hồi salmon và trout dự kiến tiếp tục tăng trong thập kỷ tới.

Tỷ trọng của thủy sản nuôi trồng trong tổng sản lượng thủy sản sẽ tăng từ 44% trong giai đoạn 2013 – 2015 đến 52% trong năm 2025 và sẽ vượt tỷ trọng của thủy sản khai thác từ năm 2021. Sự phát triển này mở ra một kỷ nguyên mới cho thấy nuôi trồng thuỷ sản ngày càng chi phối sự thay đổi của ngành thủy sản. Tuy nhiên, ngành khai thác vẫn giữ vị trí quan trọng đối với một số loài và có ý nghĩa đối với an ninh lương thực quốc tế và nội địa. Sản lượng thủy sản khai thác dự kiến tăng 1% đạt 94 triệu tấn vào năm 2025. Mức tăng nhẹ này có nhiều nguyên nhân: như phụ thuộc vào tiến trình đạt mục tiêu SDH, bao gồm: phục hồi trữ lượng một số loài sau khi một số nước cải thiện cơ chế quản lý, một số nước không bị áp hạn ngạch sản lượng vẫn tăng khai thác; giá xăng dầu giảm, và tăng hiệu quả tận dụng sản lượng qua việc giảm lãng phí cá vụn, chất thải và thất thoát theo quy định và do tác động từ giá thủy sản tăng (trong đó có giá bột cá và dầu cá). Ở giai đoạn đầu của thập kỷ tới, sản lượng khai thác sẽ không tăng nhiều do ảnh hưởng của thời tiết El Nino đối với khu vực Nam Mỹ. Trong 10 năm tới, hiện tượng thời tiết này sẽ làm giảm 2% sản lượng khai thác của thế giới, tác động nhiều hơn đối với sản lượng cá cơm của Peru và Chile.

Đến năm 2025, tỷ lệ sản lượng thủy sản khai thác được để sản xuất bột cá sẽ khoảng 16%, thấp hơn 1% so với giai đoạn trước. Nguyên nhân do nhu cầu thủy sản làm thực phẩm tăng đối với những loài trước kia dùng làm bột cá, dầu cá; nguồn nguyên liệu khan hiếm hơn và ngày càng sử dụng nhiều phụ phẩm để sản xuất bột cá. Tỷ lệ sản lượng khai thác dùng sản xuất bột cá và dầu cá sẽ giảm nhẹ trong những năm đầu khi có hiện tượng thời tiết El Nino do sản lượng đánh bắt cá cơm giảm. Tới năm 2025, sản lượng bột cá và dầu cá có thể đạt 5,1 triệu tấn và 1,0 triệu tấn. Sản lượng bột cá sẽ tăng 15% so với mức trung bình của những năm 2013 – 15, nhưng khoảng 96% mức tăng được sản xuất từ cá vụn, phụ phẩm từ cá chế biến. Vì ngày càng nhiều sản lượng cá để dành cho việc chế biến phile và các dạng chế biến khác nên tỷ lệ phụ phẩm như đầu, đuôi, xương và nội tạng sau chế biến sẽ tăng lên, được đưa vào để sản xuất bột cá và dầu cá. Bột cá sản xuất từ phụ phẩm chế biến cá sẽ chiếm 38% sản lượng bột cá thế giới trong năm 2025, so với 29% trong giai đoạn 2013 – 15. Sử dụng phụ phẩm từ chế biến cá có thể ảnh hưởng đến thành phần và chất lượng bột cá và dầu cá: ít đạm hơn, nhiều khoáng chất và tăng axit amino (như glycine, proline, hydroxyproline) hơn so với sản phẩm chế biến từ cá nguyên con. Đây có thể là nguyên nhân làm giảm tiêu thụ bột cá và dầu cá trong thức ăn nuôi thủy sản và gia súc. Tuy nhiên, sự thay đổi này không đáng kể.

Giá

Năm 2015, giá trung bình thủy sản thấp hơn so với năm 2014. Dự kiến trong thập kỷ tới, các yếu tố chính tác động đến giá thủy sản thế giới sẽ là: thu nhập, mức tăng dân số và giá thịt, xét về khía cạnh nhu cầu; sản lượng khai thác tăng ít, giá thức ăn nuôi thủy sản, điện và xăng, dầu…xét về khía cạnh cung. Về danh nghĩa, giá thủy sản dự kiến tiếp tục giảm trong giai đoạn đầu do tăng trường kinh tế chậm hơn, nhu cầu giảm ở một số thị trường chính và chi phí đầu vào giảm. Tuy nhiên, trong 5 năm cuối của giai đoạn này, giá sẽ ổn định và tăng nhẹ, sau đó sẽ giữ ở mức cao vào cuối giai đoạn. Tới năm 2025, giá sản xuất trung bình dự kiến tăng nhự so với giai đoạn 2013 – 15 vì nhu cầu sẽ vượt cung. Tuy nhiên giá trung bình thủy sản tiêu thụ làm thực phẩm, giá dầu cá và bột cá sẽ giảm chút so với mức đỉnh 2014 nhưng vẫn khá cao.

Thủy sản khai thác vẫn bị hạn chế hạn ngạch, trong khi nhu cầu một số loài vẫn ổn định, do vậy dự kiến tới năm 2015, giá trung bình thủy sản khai thác (bao gồm cá làm bột cá, dầu cá) sẽ tăng mạnh hơn giá thủy sản nuôi (tăng 7% so với thủy sản nuôi là 2%) so với giai đoạn 2013 – 15 và mức tăng trung bình hàng năm tương ứng là 1% và 0,8%. Tuy nhiên nhìn chung giá thủy sản khai thác vẫn thấp hơn thủy sản nuôi, có thể do tỷ lệ cá khai thác giá trị thấp cao hơn. Giá thủy sản nuôi tăng ít hơn một phần do giá thức giảm sau khi tăng kỷ lục vào những năm 2011 – 12 và do hệ số chuyển đổi thức ăn cao hơn và năng suất cao hơn (dù vẫn thấp hơn so với những thập kỷ trước nữa). Giá thực tế thủy sản khai thác và thủy sản nuôi dự kiến đều giảm 13% và 17% trong giai đoạn này.

Giá bột cá đã tăng mạnh từ năm 2006 đến 2013 đạt tới 1.747 USD/tấn vào năm 2013. Sau đó, dù đã giảm nhẹ nhưng giá vẫn cao. Đến năm 2025, giá trung bình bột cá dự kiến giảm 14% về danh nghĩa và giá thực tế giảm 30%. Riêng những năm có hiện tương El Nino sản lượng khai thác ở Nam Mỹ giảm, chủ yếu là cá cơm, sẽ làm giảm sản lượng bột cá và dầu cá. Từ mức cao đỉnh điểm, giá dầu cá dự kiến giảm trong giai đoạn 2016 – 2025, nhưng vẫn cao hơn so với giá bột cá. Giá danh nghĩa trung bình dầu cá dự kiến giảm 3% và thực tế sẽ giảm 21%.

Giá tiêu thụ thủy sản cũng sẽ giảm trong giai đoạn tới, với mức giảm danh nghĩa 5% và giảm thực tế 25%. Các yếu tố chính tác động giảm là giá cạnh tranh của các sản phẩm thay thế, nhất là thịt gà, nhu cầu của các thị trường giảm do tăng trưởng kinh tế chậm, giá sản xuất và bán các sản phẩm nuôi giảm vì chi phí vận chuyển và thức ăn hạ.

Nhờ thuế NK ở mức tối thiểu hoặc mức thấp ở những nước phát triển nên thương mại thủy sản quốc tế vẫn khá tự do và sự biến động giá có thể tác động từ thị trường này sang thị trường khác. Tuy nhiên, ở nhiều nước đang phát triển, thuế NK và giấy phép NK vẫn là vấn đề. Biến động giá trên thị trường quốc tế sẽ có hiệu ứng lan tỏa đối với cả các loài không giao dịch thương mại nhiều.

Đối với từng loài, biến động giá có thể rõ rệt hơn do sự thay đổi nguồn cung trước những điều chỉnh đáng kể về hạn ngạch khai thác và dịch bệnh đối với thủy sản nuôi, cũng như biến động giá thức ăn nuôi.

Nguồn: Vasep

Chào bán bột cá biển nguyên chất (Cá Ngừ) 55% đạm

Cơ sở sản xuất bột cá Nguyễn Thị Sậu chào bán bột cá biển nguyên chất (cá Ngừ) 55% đạm, không pha tạp chất, có mùi thơm đặc trưng của cá ngừ.

Hãy gọi cho chúng tôi theo số: 0949.333.288 để được tư vấn và biết giá cả. Trân thành cảm ơn quý khách hàng.

Hình ảnh bột cá Ngừ:

Bột cá biển, bột cá Ngừ sấy khô 55% độ đạm, 10% độ ẩm

Bột cá biển, bột cá Ngừ sấy khô 55% độ đạm, 10% độ ẩm

Phiếu kết quả thử nghiệm bột cá Ngừ:

Phiếu kết quả thử nghiệm bột cá biển (Cá Ngừ) 55 đạm.

Phiếu kết quả thử nghiệm bột cá biển (Cá Ngừ) 55 đạm.

Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia lĩnh vực thức ăn chăn nuôi

Nhằm kiểm soát chặt chẽ chất lượng thức ăn chăn nuôi, đặc biệt về giới hạn cho phép các yếu tố tác động, Bộ NN&PTNT đã ban hành quy chuẩn mới, áp dụng thực hiện từ ngày 26/1/2017.

Tại Thông tư số 27/2016/TT-BNNPTNT, Bộ NN&PTNT đã quy định giới hạn tối đa cho phép hàm lượng độc tố nấm mốc, kim loại nặng và vi sinh vật trong thức ăn hỗn hợp gia súc, gia cầm. Thông tư này có hiệu lực được giữ nguyên giá trị hiệu lực công bố trong thời hạn 3 năm kể từ ngày Sở NN&PTNT ban hành thông tư tiếp nhận công bố hợp quy.

quy định giới hạn cho phép trong thức ăn chăn nuôi - chăn nuôi

Quy chuẩn mới quy định giới hạn tối đa cho phép các yếu tố tác động trong thức ăn hỗn hợp gia súc, gia cầm Ảnh: Hải Linh

Theo đó, quy định giới hạn các yếu tố trên trong thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh và thức ăn đậm đặc cho lợn, gà, chim cút, ngan, vịt; thức ăn tinh hỗn hợp cho bê và bò thịt. Áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có hoạt động liên quan đến kinh doanh thức ăn chăn nuôi cho gia súc, gia cầm tại Việt Nam.

Cụ thể, hàm lượng tối đa cho phép độc tố Aflatoxin tổng số trong thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh và thức ăn đậm đặc cho lợn, gà, chim cút, vịt, ngan; thức ăn tinh hỗn hợp cho bê và bò thịt được quy định như sau:

hàm lượng aflatoxin cho phép trong thức ăn chăn nuôi - chăn nuôi

Lưu ý: Lợn con: từ 1 đến 45 ngày tuổi hoặc từ sơ sinh đến 15kg.

Gà, chim cút, vịt và ngan con: Từ 1 đến 28 ngày tuổi

Bê: Dưới 6 tháng tuổi.

Về yếu tố kim loại nặng: Được quy định riêng với từng loại. Với thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh và thức ăn tinh hỗn hợp cho bê, bò thịt, được quy định như sau:

kim loại nặng trong thức ăn chăn nuôi - chăn nuôi

 

Đối với thức ăn đậm đặc: Hàm lượng một số nguyên tố kim loại nặng tối đa cho phép trong thức ăn đậm đặc cho lợn, gà, chim cút, vịt và ngan được tính bằng công thức sau: A = (B x 100)/C, trong đó: A là hàm lượng một nguyên tố kim loại nặng tối đa cho phép trong thức ăn đậm đặc (mg/kg hoặc ppm); B là hàm lượng nguyên tố kim loại nặng tối đa cho phép trong thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh tương ứng quy định trong Quy chuẩn kỹ thuật này (mg/kg hoặc ppm); C là tỷ lệ tối đa thức ăn đậm đặc dùng để phối trộn (%) theo hướng dẫn sử dụng được công bố hoặc ghi trên nhãn.

Với vi sinh vật, tổng số vi sinh vật tối đa cho phép trong thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh và thức ăn đậm đặc cho lợn, gà, chim cút, vịt, ngan; thức ăn tinh hỗn hợp cho bê và bò thịt được quy định như sau:

tổng vi sinh vật cho phép trong thức ăn - chăn nuôi

Theo quy định tại Thông tư này, thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh và thức ăn đậm đặc cho lợn, gà, chim cút, vịt, ngan; thức ăn tinh hỗn hợp cho bê và bò thịt của các tổ chức, cá nhân quy định tại mục 1.2 của Quy chuẩn phải đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật quy định tại Quy chuẩn này.

Cùng đó, trước khi lưu thông trên thị trường, tổ chức, cá nhân kinh doanh thức ăn chăn nuôi quy định tại mục 1.2 của Quy chuẩn này phải làm thủ tục công bố hợp quy tại Sở NN&PTNT địa phương nơi tổ chức, cá nhân đăng ký hoạt động sản xuất, kinh doanh theo quy định.

Phương thức đánh giá hợp quy: Đánh giá theo phương thức 5 hoặc phương thức 7 quy định tại Thông tư số 55/2012/TT-BNNPTNT ngày 31/10/2012 hướng dẫn thủ tục chỉ định tổ chức chứng nhận hợp quy và công bố hợp quy thuộc phạm vi quản lý của Bộ NN&PTNT.

Mỗi sản phẩm công bố hợp quy phải được lấy mẫu thử nghiệm để đánh giá sự phù hợp đối với tất cả các chỉ tiêu quy định tại Quy chuẩn kỹ thuật này.

Trong thời gian hiệu lực của kết luận về sự phù hợp, mỗi sản phẩm công bố hợp quy phải được lấy mẫu để đánh giá giám sát với tần suất không quá 12 tháng/lần và thử nghiệm tất cả các chỉ tiêu quy định tại Quy chuẩn kỹ thuật này với tần suất ít nhất 3 năm/lần/chỉ tiêu.

Nguồn: Người chăn nuôi

Thế giới và chăn nuôi bền vững

Tính bền vững không chỉ là xu hướng mà nhiều trang trại chăn nuôi trên thế giới đang hướng đến, đây còn là cách để giúp họ sống khỏe, có vị thế vững chắc và phát triển hơn nữa trước nhu cầu ngày càng khắt khe của người tiêu dùng trên toàn cầu đối với thực phẩm an toàn.

Nuôi bò sữa sạch

Nằm ở bang Indiana (Mỹ), Fair Oaks Farms được biết đến là một trong những trang trại bò sữa lớn nhất nước Mỹ với diện tích khoảng 78 km2, chăn thả 30.000 con bò, sản xuất 250.000 lít sữa mỗi ngày. Bên cạnh đó, Fair Oaks Farms còn sở hữu đàn lợn với số lượng tương đối lớn. Fair Oaks Farms được sắp xếp rất khoa học, ngăn nắp và sạch sẽ. Tất cả gia súc sinh sống ở đây có lối đi một chiều để tránh lạc. Những con bò lần lượt đi theo hàng đến một người cầm sẵn khăn sạch lau những núm vú và ráp vào những ống bơm sữa khi bước lên một vòng tròn quay. Bò đứng nguyên tại chỗ và vòng tròn tiếp tục quay. Khi vắt hết sữa, những ống hút tự động nhả ra.

Fair Oaks Farms sản xuất khoảng 250.000 lít sữa mỗi ngày mà không cần kích thích hoóc môn nhân tạo. Việc vắt sữa ở Fair Oaks dường như không bao giờ kết thúc, một con bò được vắt ba lần mỗi ngày và 10 điểm vắt sữa của Fair Oaks hoạt động 24/7. Tất cả sữa chảy vào bể chứa bên dưới và được xe bồn chở đến nhà máy chế biến. Các thiết bị vắt sữa tại Fair Oaks Farms được tự động làm sạch trong khoảng thời gian ngắn nghỉ ngơi.

Đối với việc xử lý chất thải để tránh môi nhiễm, tại Fair Oaks Farms, phân bò được thu lại, sau đó đưa ra thành từng đống trong những căn nhà rộng để pha với đất cát, cây xay, sấy khô và đóng bao cung cấp cho các chợ như Home Depot hay Low để nông dân mua về chăm sóc vườn.

Trại nuôi heo của Fair Oaks Farms cũng rất quy củ. Heo con sống chung, còn những con heo nái mỗi con một ngăn riêng. Bổn phận chỉ có ăn và sinh sản. Sàn nuôi heo là những tấm kim loại có nhiều lỗ cho phân trôi xuống. Những con heo ở đây lúc nào cũng sạch sẽ, da bóng hồng. Gia súc chăn nuôi ở Fair Oaks Farms luôn được ăn no, chăm sóc chu đáo, sản xuất theo khả năng, do đó, chất lượng sản phẩm được đánh giá cao và đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng về truy xuất nguồn gốc.

Mô hình chăn nuôi lợn tại Ark Farm, Nhật Bản -chăn nuôi

Mô hình chăn nuôi lợn tại Ark Farm, Nhật Bản Nguồn: Arkfarm

Sản xuất thịt heo hữu cơ

Ngay từ khi bắt đầu hình thành cho đến nay, Applegate Farms, nhà cung cấp thịt hữu cơ và tự nhiên lớn nhất tại Mỹ luôn đi theo xu hướng làm thế nào để người tiêu dùng hiểu rõ động vật được nuôi như thế nào và quá trình sản xuất các sản phẩm ra sao. Chính vì tạo được niềm tin và sự minh bạch trong sản xuất kinh doanh, doanh thu của Applegate tăng trưởng theo cấp số nhân trong thị trường thực phẩm hữu cơ và tự nhiên, đạt 340 triệu USD năm 2015. Hiện, Applegate cung cấp hơn 140 sản phẩm trong các cửa hàng trên nước Mỹ.

Các sản phẩm hữu cơ được coi là xu thế tiêu dùng thông minh. Thực phẩm hữu cơ động vật có nghĩa là vật nuôi được nuôi lớn tự nhiên, không dùng chất kích thích tăng trưởng, ngoại trừ trường hợp kháng sinh để chữa bệnh. Ưu điểm của thịt hữu cơ là ít hóa chất, động vật được nuôi trong môi trường thiên nhiên nên gần gũi với con người, không có kháng sinh hay kích thích tố. Loại thực phẩm này có giá đắt hơn nhiều lần so với thực phẩm thông thường vì thu hoạch thường ít hơn song cần sự đầu tư chăm sóc. Tuy nhiên, các sản phẩm của Applegate Farms nhận sự hưởng ứng tích cực từ khách hàng, điều này chứng tỏ một số lượng ngày càng tăng người tiêu dùng đang lựa chọn các sản phẩm tự nhiên và hữu cơ bởi cảm thấy an toàn về chất lượng và hiểu rõ về nguồn gốc của sản phẩm.

Phương pháp canh tác hữu cơ đang được nhiều trang trại phát triển - chăn nuôi

Phương pháp canh tác hữu cơ đang được nhiều trang trại phát triển Nguồn: Fao.org

Sản phẩm hữu cỡ và tự nhiên được hiểu theo nhiều nghĩa, nhưng khi Applegate công bố rằng, sản phẩm của họ là tự nhiên thì người tiêu dùng được bảo đảm rằng: Động vật mà Applegate nuôi hoàn toàn không dùng kháng sinh hoặc kích thích tố, được cho ăn cỏ 100%, được đảm bảo môi trường sống và các tiêu chuẩn nhân đạo. Đồng thời, các sản phẩm mà Applegate cung cấp ra thị trường hoàn toàn không chứa các chất nitrit, nitrat hóa hoặc photphat, các thành phần nhân tạo hay chất bảo quản.

> Hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới cũng đang phát triển mô hình trang trại kết hợp với sinh thái. Chẳng hạn như, trang trại Chockchai Farm (Thái Lan) kết hợp chăn nuôi bò sữa và dịch vụ du lịch. Hay, Ark Farm (Nhật Bản) kết hợp chăn nuôi heo, sản xuất giăm bông, xúc xích và tạo không gian cho khách tham quan với các hoạt động vui chơi ngoài trời.

Nguồn: Người chăn nuôi

Dinh dưỡng cho vịt đẻ

Dinh dưỡng là yếu tố quan trọng quyết định đến khả năng đẻ tốt của vịt. Cung cấp đủ các loại thức ăn chính trong nhu cầu của vịt đẻ giúp đảm bảo sức khỏe cho vật nuôi và mang lại hiệu quả kinh tế cao.

Hàm lượng các chất dinh dưỡng

Trong chăn nuôi vịt đẻ, cần lưu ý đến lượng thức ăn cung cấp cho vịt nhằm đạt khả năng sản xuất tối đa nhưng không làm cho vịt bị béo từ đó làm giảm khả năng đẻ trứng.

Đối với thức ăn của vịt đẻ thường có 2 dạng: thức ăn hỗn hợp (thức ăn viên) và thức ăn kết hợp giữa thức ăn hỗn hợp và nguồn thức ăn tự nhiên sẵn có tại địa phương; chẳng hạn như 70 – 80% thức ăn viên + 20 – 30% thức ăn tự nhiên. Theo các khuyến cáo, dùng thức ăn viên cho vịt đẻ là tốt nhất bởi trong thức ăn viên có đầy đủ và cân đối các chất dinh dưỡng đáp ứng nhu cầu của vịt đẻ. Thức ăn thông thường như lúa, đầu tôm, ngô… thường không cân đối được các chất dinh dưỡng và hàm lượng không ổn định. Hơn nữa, dựa vào đặc điểm sinh học có thể thấy, vịt thích thức ăn dạng hạt hơn các dạng khác.

Protein

Protein là yếu tố đóng vai trò quyết định đến khả năng đẻ và tỷ lệ đẻ trứng của vịt. Thức ăn giai đoạn vịt đẻ cần đảm bảo 17 – 19% protein thô; Chẳng hạn, đối với giống vịt Super M. Anh Đào, Tiệp và CV 2000 nhu cầu protein thô là 19,5%; với vịt Khali Cambell, vịt cỏ là 17%. Chất lượng protein phụ thuộc vào sự có mặt của các loại axit amin. Thức ăn protein có nguồn từ động vật (như bột cá, giun ốc, cua, bột xương…) và thực vật (bột đậu, lạc…). Protein có nguồn gốc động vật được coi là các loại thức ăn có đầy đủ hàm lượng protein, trong khi protein có nguồn gốc thực vật thường có thành phần các axit amin không đầy đủ (trong 100 g protein động vật, vịt có thể hấp thu được 70 – 90% chất dinh dưỡng; đối với protein thực vật vịt chỉ hấp thu khoảng 60 – 65%). Tuy nhiên, cần cân nhắc khi bổ sung protein có nguồn gốc động vật như bột cá vào thức ăn của vịt đẻ, bởi nó có thể làm ảnh hưởng đến mùi vị của trứng. Đối với những khu chăn nuôi vịt đẻ rộng, có thể thả thì việc tìm kiếm thức ăn có nhiều đạm dễ dàng hơn và người nuôi không nhất thiết phải bổ sung thường xuyên. Các nguồn dinh dưỡng đạm mà vịt có thể tìm kiếm được trong môi trường chăn thả như: ốc, trai, hến, châu chấu… đây là những nguồn cung cấp lượng đạm khá cao cho vịt. Ngoài ra, còn có giun đất là thức ăn yêu thích của vịt, hàm lượng đạm tiêu hóa của giun đất chiếm tới 7 – 8%; đây là nguồn dinh dưỡng dễ tìm kiếm trong tự nhiên. Đối với nguồn thức ăn thực vật thường có nhiều trong đỗ, lạc, bã đậu… có thể dùng cho vịt ăn.

Cung cấp đầy đủ dinh dưỡng giúp vịt đẻ năng suất    Ảnh: Phan Thanh Cường

Cung cấp đầy đủ dinh dưỡng giúp vịt đẻ năng suất Ảnh: Phan Thanh Cường

Năng lượng

Những thức ăn giàu lượng đường thường có trong các loại thực vật như lúa, ngô, khoai, sắn… Trong đó, lúa thường được dùng khá phổ biến để nuôi vịt đẻ; trong lúa cũng có tới 5% đạm tiêu hóa. Để nâng cao khả năng tiêu hóa và có thêm vitamin H cần thiết đối với khả năng đẻ trứng của vịt, các cơ quan khuyến cáo người nuôi nên ủ cho lúa lên mầm trước khi cho vịt ăn. Ngoài lúa ra, hiện nay ngô được dùng nhiều để nuôi các loại vịt, trong đó ngô thích hợp nhất cho vịt vỗ béo. Bởi, ngô có hàm lượng protein tiêu hóa khoảng 7,4%, lipid 4,5% và nhiều caroten. Khi vịt đẻ cho ăn ngô, lòng đỏ của trứng sẽ có màu vàng sẫm được người tiêu dùng thích hơn (tuy không thay đổi hàm lượng các chất trong quả trứng).

Vitamin

Vitamin rất cần thiết trong nhu cầu dinh dưỡng của vịt đẻ, tuy nhiên đối với vịt được chăn thả thường không bị thiếu hụt các nguồn vitamin. Vì nhờ vào các thức ăn mà vịt tận dụng được trong quá trình kiếm mồi hoặc vitamin có trong thức ăn bổ sung. Nguồn vitamin ngoài tự nhiên vịt có thể tìm kiếm được đó là rong bèo, rau diếp, bắp cải, các loại cỏ… Tuy nhiên, người nuôi cũng cần phải quan sát vào da hoặc lông của vịt để biết được chính xác nhu cầu vitamin của chúng. Khi vịt đẻ, nhất là vào mùa hè, nên bổ sung thêm các loại củ, quả giàu vitamin để đáp ứng đủ nhu cầu của vịt đẻ. Nếu thấy mỏ, chân nhợt nhạt, lông xù hoặc mắt ướt thì đây là những biểu hiện của vịt bị thiếu Vitamin A, B, D và cần phải có những biện pháp xử lý phù hợp.

Khoáng

Khoáng, đặc biệt là canxi là chất dinh dưỡng trong hình thành vỏ trứng và làm tăng tính thèm ăn của vịt. Khi vịt không được chăn thả người nuôi sẽ phải tiến hành bổ sung khoáng cho vịt đẻ đảm bảo tỷ lệ trứng. Một số nguồn bổ sung chất khoáng gồm vỏ trứng, vôi bột, muối ăn… Trong vỏ trứng có tới 28% canxi, có thể lấy vỏ trứng được đun chín nghiền nhỏ rồi trộn với thức ăn khác để cho vịt ăn; hoặc sử dụng vôi chết để khô nghiên thành bột rồi trộn với thức ăn khác, bổ sung hằng ngày vào chế độ ăn của vịt. Ngoài ra, bổ sung 0,5 – 1% muối vào khẩu phần ăn cũng giúp cung cấp thêm chất khoáng cho vịt đẻ.

Nước uống

Vịt là loài thủy cầm nên uống rất nhiều nước. Do đó, trong chuồng nuôi phải luôn có đủ nước uống và phải đảm bảo vệ sinh cho vịt. Lượng nước cần cung cấp hàng ngày là 5 lít/con.

> Ngoài các nguồn thức ăn như trên, người nuôi cũng có thể bổ sung thêm men tiêu hóa, premix, điện giải và tiêm phòng vắc xin đầy đủ cho vịt để đạt tỷ lệ đẻ cao và phòng tránh được dịch bệnh.

Nguồn: Nguoichannuoi

Phát triển thực phẩm sạch: Cần những chính sách cụ thể

Chuyển từ kiểu tự cung tự cấp sang phát triển mang tính hàng hóa, số lượng lớn, chất lượng đồng đều, người chăn nuôi Việt Nam còn phải đối mặt với bài toán cung ứng sản phẩm “sạch” với giá cả phù hợp. Nhiều cơ sở chạy theo lợi nhuận, sản xuất bất chấp tiêu chuẩn vệ sinh an toàn, thay vì xây dựng một nền chăn nuôi vững chắc và khoa học.

Ám ảnh ngộ độc

Thống kế cho thấy, năm 2013 cả nước có 167 vụ ngộ độc thực phẩm, 5.558 người bị ngộ độc, 28 người chết. Năm 2014 có 194 vụ, 5.203 người ngộ độc, 43 người chết. Năm 2015, 171 vụ, 4.965 người mắc và 23 trường hợp tử vong. Như vậy, ngộ độc thực phẩm không chỉ là hồi chuông báo động mà đang là hồi chuông báo tử.

Tính toán cũng cho thấy, chi phí mà xã hội bỏ ra không nhỏ để xử lý ngộ độc thực phẩm, đơn cử tiền thuốc men và viện phí cho mỗi nạn nhân ngộ độc do vi sinh vật chừng 300.000 – 500.000 đồng, ngộ độc do hóa chất (thuốc trừ sâu, phẩm màu…) 3 – 5 triệu đồng.

Phân loại nguyên nhân thì ngộ độc thực phẩm do nhiễm vi sinh vật chiếm tới 33 – 49%; vi khuẩn Salmonella là thủ phạm của 70% vụ; ô nhiễm hóa chất chiếm 11 – 27% và 27% số vụ do ăn phải thực phẩm tồn đọng hóa chất.

Chậm trễ trong giết mổ công nghiệp

Thực trạng giết mổ gia súc, gia cầm lạc hậu trở thành vấn đề nan giải hiện nay. Việc giết mổ thường diễn ra vào ban đêm, với khoảng thời gian ngắn, thiếu nhân lực, thiếu mặt bằng… Chưa kể, phương tiện vận chuyển heo, gà mới mổ chủ yếu là những chiếc xe máy cà tàng chạy khắp làng quê, thành thị, bất kể trời nắng, mưa hay khói bụi.

Việc xây dựng các điểm giết mổ công nghiệp sẽ giúp người chăn nuôi ý thức được quy trình nuôi sạch. Ngoài ra, các cơ sở này cũng góp phần quản lý sản phẩm “đầu vào” nguyên liệu, bằng cách khuyến khích sản phẩm sạch theo nguyên tắc “nước chảy chỗ trũng”. Đáng tiếc là cả nước có tới 28.285 điểm giết mổ gia súc, gia cầm nhỏ lẻ, trong khi chỉ 59 cơ sở giết mổ tập trung (chiếm 0,51%).

Thực trạng này được lý giải là do một số điểm giết mổ tập trung được đầu tư quy mô nhưng lại rơi vào tình trạng “khan hiếm nguyên liệu” do lượng gia súc, gia cầm cung ứng có nơi chỉ đạt 5% công suất. Còn người chăn nuôi cho rằng, việc bán sản phẩm cho thương lái và các lò mổ nhỏ lẻ thuận tiện lại giảm chi phí.

Quản lý lỏng lẻo

Người tiêu dùng vẫn quan niệm “Việc quản lý vệ sinh môi trường trước hết là quản lý từ gốc, tức là từ hộ chăn nuôi”. Nhưng từ trước đến nay, việc quản lý thường diễn ra ở các chợ, khi sản phẩm đã được giết mổ xong và trang thiết bị kiểm định lại thiếu thốn. Lâu nay, đa phần cơ quan chức năng tập trung vào lĩnh vực khuyến nông, còn việc quản lý thậm chí xử phạt hành chính về an toàn vệ sinh thực phẩm ngay tại các làng xã là rất khó khăn.

Các nhà làm chuyên môn và quản lý cho rằng, để người chăn nuôi không sử dụng chất tạo nạc thì phải cần nhiều ngân sách truyên truyền đến tận người dân. Cần có lực lượng cán bộ đông đảo hơn. Song nếu cứ chăn nuôi nhỏ lẻ thì số lượng cán bộ chức năng sẽ phình ra ngày càng nhiều. Giải pháp để phát triển bền vững là xây dựng ngành chăn nuôi tập trung, quy hoạch vùng, hạn chế thiệt hại do dịch bệnh gây ra, tạo nên những sản phẩm chăn nuôi có giá trị cao và được kiểm định thường xuyên chất lượng sản phẩm. Song vấn đề đầu ra lại đang gặp khá nhiều khó khăn đối với các vùng nuôi tập trung.

Liên kết chuỗi và thương hiệu

Khó khăn cho người tiêu dùng là không phân biệt được đâu là sản phẩm sạch trên thị trường. Giải quyết vấn đề này, các công ty cũng đã và đang xây dựng những mô hình liên kết chuỗi, truy xuất nguồn gốc.

xây dựng các điểm giết mổ công nghiệp - chăn nuôi

Xây dựng các điểm giết mổ công nghiệp góp phần phát triển thực phẩm sạch

Công ty CP Chăn nuôi C.P Việt Nam đã phát triển sản phẩm “Five Star” với mô hình hợp tác kinh doanh tại 9 quốc gia như: Thái Lan, Bangladesh, Campuchia, Ấn Độ, Myanmar, Malaysia… Sản phẩm chính của Five Star là gà rán và xiên que, sử dụng nguyên liệu gà tươi của đơn vị này với quy trình sản xuất khép kín từ con giống, chăn nuôi cho đến thành phẩm trên bàn ăn. Đây là một hướng đi hiện đại của các công ty cung ứng thực phẩm. Với các trang trại Việt Nam, việc liên kết chuỗi cũng đã được chú ý hơn trước kia và giúp nhiều doanh nghiệp thành công.

Bài toán giá thành

Các sản phẩm “sạch” hiện vẫn còn ở mức giá cao so với mặt bằng chung là vấn đề không chỉ riêng đối với Việt Nam. Chẳng hạn, giá thịt heo được chăn nuôi theo quy trình hiện đại bền vững, không sử dụng kháng sinh, hóa chất ở Singapore đắt hơn gấp 4 lần so với sản phẩm cùng loại mà ngành chăn nuôi Việt Nam cung cấp cho thị trường.

Hiện đã có trên 100 trang trại chăn nuôi lớn và hơn 9.000 hộ chăn nuôi đã được công nhận đạt tiêu chuẩn VietGAP. Dự án Cạnh tranh ngành chăn nuôi và an toàn thực phẩm (LIFSAP) do Ngân hàng Thế giới tài trợ với tổng vốn lên tới 79,03 triệu USD triển khai trên 12 tỉnh, thành phố của cả nước. Song việc sản xuất cũng cầm chừng. Giá thành sản xuất sản phẩm sạch theo hướng hiện đại có chi phí  cao hơn sản phẩm nuôi công nghiệp trước đây 2.000 – 4.000 đồng/kg.

Thực tế là rất nhiều cửa hàng bán thực phẩm sạch mà chúng tôi tiếp cận chỉ sau thời gian ngắn đã phải đóng cửa vì vắng khách. Những cửa hàng vốn bán thực phẩm thường đang đông khách, khi chuyển sang bản thực phẩm sạch thì khách hàng giảm mạnh và thua lỗ nặng.

Nhiều chủ cửa hàng và các siêu thị cho rằng nhà nước nên có chính sách thiết thực phát triển các sản phẩm sạch, bằng cách có chính sách ưu đãi thuế, chính sách hỗ trợ về giá… tạo sức hút ban đầu đối với người dân khi sử dụng các sản phẩm VietGAP, các sản phẩm sạch của bà con nông dân.

>> Bên cạnh việc thay đổi nhận thức tiêu dùng của người dân hướng sang sản phẩm sạch, nói “không” với thực phẩm không an toàn, thì vấn đề của ngành chăn nuôi là phải cung cấp sản phẩm sạch ở mức giá có sức cạnh tranh tốt. Người nội trợ đánh giá, sản phẩm sạch hiện đắt hơn 2 – 3 lần thực phẩm bán trên thị trường nói chung.          

Nguồn: Nguoichannuoi

%d bloggers like this: