Bột Cá Biển

Cơ sở sản xuất bột cá Nguyễn Thị Sậu cung cấp bột cá biển (Cá Ngừ) 55 đạm, không pha tạp chất. Tel: 0966 245 345

Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia lĩnh vực thức ăn chăn nuôi

Nhằm kiểm soát chặt chẽ chất lượng thức ăn chăn nuôi, đặc biệt về giới hạn cho phép các yếu tố tác động, Bộ NN&PTNT đã ban hành quy chuẩn mới, áp dụng thực hiện từ ngày 26/1/2017.

Tại Thông tư số 27/2016/TT-BNNPTNT, Bộ NN&PTNT đã quy định giới hạn tối đa cho phép hàm lượng độc tố nấm mốc, kim loại nặng và vi sinh vật trong thức ăn hỗn hợp gia súc, gia cầm. Thông tư này có hiệu lực được giữ nguyên giá trị hiệu lực công bố trong thời hạn 3 năm kể từ ngày Sở NN&PTNT ban hành thông tư tiếp nhận công bố hợp quy.

quy định giới hạn cho phép trong thức ăn chăn nuôi - chăn nuôi

Quy chuẩn mới quy định giới hạn tối đa cho phép các yếu tố tác động trong thức ăn hỗn hợp gia súc, gia cầm Ảnh: Hải Linh

Theo đó, quy định giới hạn các yếu tố trên trong thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh và thức ăn đậm đặc cho lợn, gà, chim cút, ngan, vịt; thức ăn tinh hỗn hợp cho bê và bò thịt. Áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có hoạt động liên quan đến kinh doanh thức ăn chăn nuôi cho gia súc, gia cầm tại Việt Nam.

Cụ thể, hàm lượng tối đa cho phép độc tố Aflatoxin tổng số trong thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh và thức ăn đậm đặc cho lợn, gà, chim cút, vịt, ngan; thức ăn tinh hỗn hợp cho bê và bò thịt được quy định như sau:

hàm lượng aflatoxin cho phép trong thức ăn chăn nuôi - chăn nuôi

Lưu ý: Lợn con: từ 1 đến 45 ngày tuổi hoặc từ sơ sinh đến 15kg.

Gà, chim cút, vịt và ngan con: Từ 1 đến 28 ngày tuổi

Bê: Dưới 6 tháng tuổi.

Về yếu tố kim loại nặng: Được quy định riêng với từng loại. Với thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh và thức ăn tinh hỗn hợp cho bê, bò thịt, được quy định như sau:

kim loại nặng trong thức ăn chăn nuôi - chăn nuôi

 

Đối với thức ăn đậm đặc: Hàm lượng một số nguyên tố kim loại nặng tối đa cho phép trong thức ăn đậm đặc cho lợn, gà, chim cút, vịt và ngan được tính bằng công thức sau: A = (B x 100)/C, trong đó: A là hàm lượng một nguyên tố kim loại nặng tối đa cho phép trong thức ăn đậm đặc (mg/kg hoặc ppm); B là hàm lượng nguyên tố kim loại nặng tối đa cho phép trong thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh tương ứng quy định trong Quy chuẩn kỹ thuật này (mg/kg hoặc ppm); C là tỷ lệ tối đa thức ăn đậm đặc dùng để phối trộn (%) theo hướng dẫn sử dụng được công bố hoặc ghi trên nhãn.

Với vi sinh vật, tổng số vi sinh vật tối đa cho phép trong thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh và thức ăn đậm đặc cho lợn, gà, chim cút, vịt, ngan; thức ăn tinh hỗn hợp cho bê và bò thịt được quy định như sau:

tổng vi sinh vật cho phép trong thức ăn - chăn nuôi

Theo quy định tại Thông tư này, thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh và thức ăn đậm đặc cho lợn, gà, chim cút, vịt, ngan; thức ăn tinh hỗn hợp cho bê và bò thịt của các tổ chức, cá nhân quy định tại mục 1.2 của Quy chuẩn phải đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật quy định tại Quy chuẩn này.

Cùng đó, trước khi lưu thông trên thị trường, tổ chức, cá nhân kinh doanh thức ăn chăn nuôi quy định tại mục 1.2 của Quy chuẩn này phải làm thủ tục công bố hợp quy tại Sở NN&PTNT địa phương nơi tổ chức, cá nhân đăng ký hoạt động sản xuất, kinh doanh theo quy định.

Phương thức đánh giá hợp quy: Đánh giá theo phương thức 5 hoặc phương thức 7 quy định tại Thông tư số 55/2012/TT-BNNPTNT ngày 31/10/2012 hướng dẫn thủ tục chỉ định tổ chức chứng nhận hợp quy và công bố hợp quy thuộc phạm vi quản lý của Bộ NN&PTNT.

Mỗi sản phẩm công bố hợp quy phải được lấy mẫu thử nghiệm để đánh giá sự phù hợp đối với tất cả các chỉ tiêu quy định tại Quy chuẩn kỹ thuật này.

Trong thời gian hiệu lực của kết luận về sự phù hợp, mỗi sản phẩm công bố hợp quy phải được lấy mẫu để đánh giá giám sát với tần suất không quá 12 tháng/lần và thử nghiệm tất cả các chỉ tiêu quy định tại Quy chuẩn kỹ thuật này với tần suất ít nhất 3 năm/lần/chỉ tiêu.

Nguồn: Người chăn nuôi

Advertisements

Thế giới và chăn nuôi bền vững

Tính bền vững không chỉ là xu hướng mà nhiều trang trại chăn nuôi trên thế giới đang hướng đến, đây còn là cách để giúp họ sống khỏe, có vị thế vững chắc và phát triển hơn nữa trước nhu cầu ngày càng khắt khe của người tiêu dùng trên toàn cầu đối với thực phẩm an toàn.

Nuôi bò sữa sạch

Nằm ở bang Indiana (Mỹ), Fair Oaks Farms được biết đến là một trong những trang trại bò sữa lớn nhất nước Mỹ với diện tích khoảng 78 km2, chăn thả 30.000 con bò, sản xuất 250.000 lít sữa mỗi ngày. Bên cạnh đó, Fair Oaks Farms còn sở hữu đàn lợn với số lượng tương đối lớn. Fair Oaks Farms được sắp xếp rất khoa học, ngăn nắp và sạch sẽ. Tất cả gia súc sinh sống ở đây có lối đi một chiều để tránh lạc. Những con bò lần lượt đi theo hàng đến một người cầm sẵn khăn sạch lau những núm vú và ráp vào những ống bơm sữa khi bước lên một vòng tròn quay. Bò đứng nguyên tại chỗ và vòng tròn tiếp tục quay. Khi vắt hết sữa, những ống hút tự động nhả ra.

Fair Oaks Farms sản xuất khoảng 250.000 lít sữa mỗi ngày mà không cần kích thích hoóc môn nhân tạo. Việc vắt sữa ở Fair Oaks dường như không bao giờ kết thúc, một con bò được vắt ba lần mỗi ngày và 10 điểm vắt sữa của Fair Oaks hoạt động 24/7. Tất cả sữa chảy vào bể chứa bên dưới và được xe bồn chở đến nhà máy chế biến. Các thiết bị vắt sữa tại Fair Oaks Farms được tự động làm sạch trong khoảng thời gian ngắn nghỉ ngơi.

Đối với việc xử lý chất thải để tránh môi nhiễm, tại Fair Oaks Farms, phân bò được thu lại, sau đó đưa ra thành từng đống trong những căn nhà rộng để pha với đất cát, cây xay, sấy khô và đóng bao cung cấp cho các chợ như Home Depot hay Low để nông dân mua về chăm sóc vườn.

Trại nuôi heo của Fair Oaks Farms cũng rất quy củ. Heo con sống chung, còn những con heo nái mỗi con một ngăn riêng. Bổn phận chỉ có ăn và sinh sản. Sàn nuôi heo là những tấm kim loại có nhiều lỗ cho phân trôi xuống. Những con heo ở đây lúc nào cũng sạch sẽ, da bóng hồng. Gia súc chăn nuôi ở Fair Oaks Farms luôn được ăn no, chăm sóc chu đáo, sản xuất theo khả năng, do đó, chất lượng sản phẩm được đánh giá cao và đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng về truy xuất nguồn gốc.

Mô hình chăn nuôi lợn tại Ark Farm, Nhật Bản -chăn nuôi

Mô hình chăn nuôi lợn tại Ark Farm, Nhật Bản Nguồn: Arkfarm

Sản xuất thịt heo hữu cơ

Ngay từ khi bắt đầu hình thành cho đến nay, Applegate Farms, nhà cung cấp thịt hữu cơ và tự nhiên lớn nhất tại Mỹ luôn đi theo xu hướng làm thế nào để người tiêu dùng hiểu rõ động vật được nuôi như thế nào và quá trình sản xuất các sản phẩm ra sao. Chính vì tạo được niềm tin và sự minh bạch trong sản xuất kinh doanh, doanh thu của Applegate tăng trưởng theo cấp số nhân trong thị trường thực phẩm hữu cơ và tự nhiên, đạt 340 triệu USD năm 2015. Hiện, Applegate cung cấp hơn 140 sản phẩm trong các cửa hàng trên nước Mỹ.

Các sản phẩm hữu cơ được coi là xu thế tiêu dùng thông minh. Thực phẩm hữu cơ động vật có nghĩa là vật nuôi được nuôi lớn tự nhiên, không dùng chất kích thích tăng trưởng, ngoại trừ trường hợp kháng sinh để chữa bệnh. Ưu điểm của thịt hữu cơ là ít hóa chất, động vật được nuôi trong môi trường thiên nhiên nên gần gũi với con người, không có kháng sinh hay kích thích tố. Loại thực phẩm này có giá đắt hơn nhiều lần so với thực phẩm thông thường vì thu hoạch thường ít hơn song cần sự đầu tư chăm sóc. Tuy nhiên, các sản phẩm của Applegate Farms nhận sự hưởng ứng tích cực từ khách hàng, điều này chứng tỏ một số lượng ngày càng tăng người tiêu dùng đang lựa chọn các sản phẩm tự nhiên và hữu cơ bởi cảm thấy an toàn về chất lượng và hiểu rõ về nguồn gốc của sản phẩm.

Phương pháp canh tác hữu cơ đang được nhiều trang trại phát triển - chăn nuôi

Phương pháp canh tác hữu cơ đang được nhiều trang trại phát triển Nguồn: Fao.org

Sản phẩm hữu cỡ và tự nhiên được hiểu theo nhiều nghĩa, nhưng khi Applegate công bố rằng, sản phẩm của họ là tự nhiên thì người tiêu dùng được bảo đảm rằng: Động vật mà Applegate nuôi hoàn toàn không dùng kháng sinh hoặc kích thích tố, được cho ăn cỏ 100%, được đảm bảo môi trường sống và các tiêu chuẩn nhân đạo. Đồng thời, các sản phẩm mà Applegate cung cấp ra thị trường hoàn toàn không chứa các chất nitrit, nitrat hóa hoặc photphat, các thành phần nhân tạo hay chất bảo quản.

> Hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới cũng đang phát triển mô hình trang trại kết hợp với sinh thái. Chẳng hạn như, trang trại Chockchai Farm (Thái Lan) kết hợp chăn nuôi bò sữa và dịch vụ du lịch. Hay, Ark Farm (Nhật Bản) kết hợp chăn nuôi heo, sản xuất giăm bông, xúc xích và tạo không gian cho khách tham quan với các hoạt động vui chơi ngoài trời.

Nguồn: Người chăn nuôi

Dinh dưỡng cho vịt đẻ

Dinh dưỡng là yếu tố quan trọng quyết định đến khả năng đẻ tốt của vịt. Cung cấp đủ các loại thức ăn chính trong nhu cầu của vịt đẻ giúp đảm bảo sức khỏe cho vật nuôi và mang lại hiệu quả kinh tế cao.

Hàm lượng các chất dinh dưỡng

Trong chăn nuôi vịt đẻ, cần lưu ý đến lượng thức ăn cung cấp cho vịt nhằm đạt khả năng sản xuất tối đa nhưng không làm cho vịt bị béo từ đó làm giảm khả năng đẻ trứng.

Đối với thức ăn của vịt đẻ thường có 2 dạng: thức ăn hỗn hợp (thức ăn viên) và thức ăn kết hợp giữa thức ăn hỗn hợp và nguồn thức ăn tự nhiên sẵn có tại địa phương; chẳng hạn như 70 – 80% thức ăn viên + 20 – 30% thức ăn tự nhiên. Theo các khuyến cáo, dùng thức ăn viên cho vịt đẻ là tốt nhất bởi trong thức ăn viên có đầy đủ và cân đối các chất dinh dưỡng đáp ứng nhu cầu của vịt đẻ. Thức ăn thông thường như lúa, đầu tôm, ngô… thường không cân đối được các chất dinh dưỡng và hàm lượng không ổn định. Hơn nữa, dựa vào đặc điểm sinh học có thể thấy, vịt thích thức ăn dạng hạt hơn các dạng khác.

Protein

Protein là yếu tố đóng vai trò quyết định đến khả năng đẻ và tỷ lệ đẻ trứng của vịt. Thức ăn giai đoạn vịt đẻ cần đảm bảo 17 – 19% protein thô; Chẳng hạn, đối với giống vịt Super M. Anh Đào, Tiệp và CV 2000 nhu cầu protein thô là 19,5%; với vịt Khali Cambell, vịt cỏ là 17%. Chất lượng protein phụ thuộc vào sự có mặt của các loại axit amin. Thức ăn protein có nguồn từ động vật (như bột cá, giun ốc, cua, bột xương…) và thực vật (bột đậu, lạc…). Protein có nguồn gốc động vật được coi là các loại thức ăn có đầy đủ hàm lượng protein, trong khi protein có nguồn gốc thực vật thường có thành phần các axit amin không đầy đủ (trong 100 g protein động vật, vịt có thể hấp thu được 70 – 90% chất dinh dưỡng; đối với protein thực vật vịt chỉ hấp thu khoảng 60 – 65%). Tuy nhiên, cần cân nhắc khi bổ sung protein có nguồn gốc động vật như bột cá vào thức ăn của vịt đẻ, bởi nó có thể làm ảnh hưởng đến mùi vị của trứng. Đối với những khu chăn nuôi vịt đẻ rộng, có thể thả thì việc tìm kiếm thức ăn có nhiều đạm dễ dàng hơn và người nuôi không nhất thiết phải bổ sung thường xuyên. Các nguồn dinh dưỡng đạm mà vịt có thể tìm kiếm được trong môi trường chăn thả như: ốc, trai, hến, châu chấu… đây là những nguồn cung cấp lượng đạm khá cao cho vịt. Ngoài ra, còn có giun đất là thức ăn yêu thích của vịt, hàm lượng đạm tiêu hóa của giun đất chiếm tới 7 – 8%; đây là nguồn dinh dưỡng dễ tìm kiếm trong tự nhiên. Đối với nguồn thức ăn thực vật thường có nhiều trong đỗ, lạc, bã đậu… có thể dùng cho vịt ăn.

Cung cấp đầy đủ dinh dưỡng giúp vịt đẻ năng suất    Ảnh: Phan Thanh Cường

Cung cấp đầy đủ dinh dưỡng giúp vịt đẻ năng suất Ảnh: Phan Thanh Cường

Năng lượng

Những thức ăn giàu lượng đường thường có trong các loại thực vật như lúa, ngô, khoai, sắn… Trong đó, lúa thường được dùng khá phổ biến để nuôi vịt đẻ; trong lúa cũng có tới 5% đạm tiêu hóa. Để nâng cao khả năng tiêu hóa và có thêm vitamin H cần thiết đối với khả năng đẻ trứng của vịt, các cơ quan khuyến cáo người nuôi nên ủ cho lúa lên mầm trước khi cho vịt ăn. Ngoài lúa ra, hiện nay ngô được dùng nhiều để nuôi các loại vịt, trong đó ngô thích hợp nhất cho vịt vỗ béo. Bởi, ngô có hàm lượng protein tiêu hóa khoảng 7,4%, lipid 4,5% và nhiều caroten. Khi vịt đẻ cho ăn ngô, lòng đỏ của trứng sẽ có màu vàng sẫm được người tiêu dùng thích hơn (tuy không thay đổi hàm lượng các chất trong quả trứng).

Vitamin

Vitamin rất cần thiết trong nhu cầu dinh dưỡng của vịt đẻ, tuy nhiên đối với vịt được chăn thả thường không bị thiếu hụt các nguồn vitamin. Vì nhờ vào các thức ăn mà vịt tận dụng được trong quá trình kiếm mồi hoặc vitamin có trong thức ăn bổ sung. Nguồn vitamin ngoài tự nhiên vịt có thể tìm kiếm được đó là rong bèo, rau diếp, bắp cải, các loại cỏ… Tuy nhiên, người nuôi cũng cần phải quan sát vào da hoặc lông của vịt để biết được chính xác nhu cầu vitamin của chúng. Khi vịt đẻ, nhất là vào mùa hè, nên bổ sung thêm các loại củ, quả giàu vitamin để đáp ứng đủ nhu cầu của vịt đẻ. Nếu thấy mỏ, chân nhợt nhạt, lông xù hoặc mắt ướt thì đây là những biểu hiện của vịt bị thiếu Vitamin A, B, D và cần phải có những biện pháp xử lý phù hợp.

Khoáng

Khoáng, đặc biệt là canxi là chất dinh dưỡng trong hình thành vỏ trứng và làm tăng tính thèm ăn của vịt. Khi vịt không được chăn thả người nuôi sẽ phải tiến hành bổ sung khoáng cho vịt đẻ đảm bảo tỷ lệ trứng. Một số nguồn bổ sung chất khoáng gồm vỏ trứng, vôi bột, muối ăn… Trong vỏ trứng có tới 28% canxi, có thể lấy vỏ trứng được đun chín nghiền nhỏ rồi trộn với thức ăn khác để cho vịt ăn; hoặc sử dụng vôi chết để khô nghiên thành bột rồi trộn với thức ăn khác, bổ sung hằng ngày vào chế độ ăn của vịt. Ngoài ra, bổ sung 0,5 – 1% muối vào khẩu phần ăn cũng giúp cung cấp thêm chất khoáng cho vịt đẻ.

Nước uống

Vịt là loài thủy cầm nên uống rất nhiều nước. Do đó, trong chuồng nuôi phải luôn có đủ nước uống và phải đảm bảo vệ sinh cho vịt. Lượng nước cần cung cấp hàng ngày là 5 lít/con.

> Ngoài các nguồn thức ăn như trên, người nuôi cũng có thể bổ sung thêm men tiêu hóa, premix, điện giải và tiêm phòng vắc xin đầy đủ cho vịt để đạt tỷ lệ đẻ cao và phòng tránh được dịch bệnh.

Nguồn: Nguoichannuoi

Phát triển thực phẩm sạch: Cần những chính sách cụ thể

Chuyển từ kiểu tự cung tự cấp sang phát triển mang tính hàng hóa, số lượng lớn, chất lượng đồng đều, người chăn nuôi Việt Nam còn phải đối mặt với bài toán cung ứng sản phẩm “sạch” với giá cả phù hợp. Nhiều cơ sở chạy theo lợi nhuận, sản xuất bất chấp tiêu chuẩn vệ sinh an toàn, thay vì xây dựng một nền chăn nuôi vững chắc và khoa học.

Ám ảnh ngộ độc

Thống kế cho thấy, năm 2013 cả nước có 167 vụ ngộ độc thực phẩm, 5.558 người bị ngộ độc, 28 người chết. Năm 2014 có 194 vụ, 5.203 người ngộ độc, 43 người chết. Năm 2015, 171 vụ, 4.965 người mắc và 23 trường hợp tử vong. Như vậy, ngộ độc thực phẩm không chỉ là hồi chuông báo động mà đang là hồi chuông báo tử.

Tính toán cũng cho thấy, chi phí mà xã hội bỏ ra không nhỏ để xử lý ngộ độc thực phẩm, đơn cử tiền thuốc men và viện phí cho mỗi nạn nhân ngộ độc do vi sinh vật chừng 300.000 – 500.000 đồng, ngộ độc do hóa chất (thuốc trừ sâu, phẩm màu…) 3 – 5 triệu đồng.

Phân loại nguyên nhân thì ngộ độc thực phẩm do nhiễm vi sinh vật chiếm tới 33 – 49%; vi khuẩn Salmonella là thủ phạm của 70% vụ; ô nhiễm hóa chất chiếm 11 – 27% và 27% số vụ do ăn phải thực phẩm tồn đọng hóa chất.

Chậm trễ trong giết mổ công nghiệp

Thực trạng giết mổ gia súc, gia cầm lạc hậu trở thành vấn đề nan giải hiện nay. Việc giết mổ thường diễn ra vào ban đêm, với khoảng thời gian ngắn, thiếu nhân lực, thiếu mặt bằng… Chưa kể, phương tiện vận chuyển heo, gà mới mổ chủ yếu là những chiếc xe máy cà tàng chạy khắp làng quê, thành thị, bất kể trời nắng, mưa hay khói bụi.

Việc xây dựng các điểm giết mổ công nghiệp sẽ giúp người chăn nuôi ý thức được quy trình nuôi sạch. Ngoài ra, các cơ sở này cũng góp phần quản lý sản phẩm “đầu vào” nguyên liệu, bằng cách khuyến khích sản phẩm sạch theo nguyên tắc “nước chảy chỗ trũng”. Đáng tiếc là cả nước có tới 28.285 điểm giết mổ gia súc, gia cầm nhỏ lẻ, trong khi chỉ 59 cơ sở giết mổ tập trung (chiếm 0,51%).

Thực trạng này được lý giải là do một số điểm giết mổ tập trung được đầu tư quy mô nhưng lại rơi vào tình trạng “khan hiếm nguyên liệu” do lượng gia súc, gia cầm cung ứng có nơi chỉ đạt 5% công suất. Còn người chăn nuôi cho rằng, việc bán sản phẩm cho thương lái và các lò mổ nhỏ lẻ thuận tiện lại giảm chi phí.

Quản lý lỏng lẻo

Người tiêu dùng vẫn quan niệm “Việc quản lý vệ sinh môi trường trước hết là quản lý từ gốc, tức là từ hộ chăn nuôi”. Nhưng từ trước đến nay, việc quản lý thường diễn ra ở các chợ, khi sản phẩm đã được giết mổ xong và trang thiết bị kiểm định lại thiếu thốn. Lâu nay, đa phần cơ quan chức năng tập trung vào lĩnh vực khuyến nông, còn việc quản lý thậm chí xử phạt hành chính về an toàn vệ sinh thực phẩm ngay tại các làng xã là rất khó khăn.

Các nhà làm chuyên môn và quản lý cho rằng, để người chăn nuôi không sử dụng chất tạo nạc thì phải cần nhiều ngân sách truyên truyền đến tận người dân. Cần có lực lượng cán bộ đông đảo hơn. Song nếu cứ chăn nuôi nhỏ lẻ thì số lượng cán bộ chức năng sẽ phình ra ngày càng nhiều. Giải pháp để phát triển bền vững là xây dựng ngành chăn nuôi tập trung, quy hoạch vùng, hạn chế thiệt hại do dịch bệnh gây ra, tạo nên những sản phẩm chăn nuôi có giá trị cao và được kiểm định thường xuyên chất lượng sản phẩm. Song vấn đề đầu ra lại đang gặp khá nhiều khó khăn đối với các vùng nuôi tập trung.

Liên kết chuỗi và thương hiệu

Khó khăn cho người tiêu dùng là không phân biệt được đâu là sản phẩm sạch trên thị trường. Giải quyết vấn đề này, các công ty cũng đã và đang xây dựng những mô hình liên kết chuỗi, truy xuất nguồn gốc.

xây dựng các điểm giết mổ công nghiệp - chăn nuôi

Xây dựng các điểm giết mổ công nghiệp góp phần phát triển thực phẩm sạch

Công ty CP Chăn nuôi C.P Việt Nam đã phát triển sản phẩm “Five Star” với mô hình hợp tác kinh doanh tại 9 quốc gia như: Thái Lan, Bangladesh, Campuchia, Ấn Độ, Myanmar, Malaysia… Sản phẩm chính của Five Star là gà rán và xiên que, sử dụng nguyên liệu gà tươi của đơn vị này với quy trình sản xuất khép kín từ con giống, chăn nuôi cho đến thành phẩm trên bàn ăn. Đây là một hướng đi hiện đại của các công ty cung ứng thực phẩm. Với các trang trại Việt Nam, việc liên kết chuỗi cũng đã được chú ý hơn trước kia và giúp nhiều doanh nghiệp thành công.

Bài toán giá thành

Các sản phẩm “sạch” hiện vẫn còn ở mức giá cao so với mặt bằng chung là vấn đề không chỉ riêng đối với Việt Nam. Chẳng hạn, giá thịt heo được chăn nuôi theo quy trình hiện đại bền vững, không sử dụng kháng sinh, hóa chất ở Singapore đắt hơn gấp 4 lần so với sản phẩm cùng loại mà ngành chăn nuôi Việt Nam cung cấp cho thị trường.

Hiện đã có trên 100 trang trại chăn nuôi lớn và hơn 9.000 hộ chăn nuôi đã được công nhận đạt tiêu chuẩn VietGAP. Dự án Cạnh tranh ngành chăn nuôi và an toàn thực phẩm (LIFSAP) do Ngân hàng Thế giới tài trợ với tổng vốn lên tới 79,03 triệu USD triển khai trên 12 tỉnh, thành phố của cả nước. Song việc sản xuất cũng cầm chừng. Giá thành sản xuất sản phẩm sạch theo hướng hiện đại có chi phí  cao hơn sản phẩm nuôi công nghiệp trước đây 2.000 – 4.000 đồng/kg.

Thực tế là rất nhiều cửa hàng bán thực phẩm sạch mà chúng tôi tiếp cận chỉ sau thời gian ngắn đã phải đóng cửa vì vắng khách. Những cửa hàng vốn bán thực phẩm thường đang đông khách, khi chuyển sang bản thực phẩm sạch thì khách hàng giảm mạnh và thua lỗ nặng.

Nhiều chủ cửa hàng và các siêu thị cho rằng nhà nước nên có chính sách thiết thực phát triển các sản phẩm sạch, bằng cách có chính sách ưu đãi thuế, chính sách hỗ trợ về giá… tạo sức hút ban đầu đối với người dân khi sử dụng các sản phẩm VietGAP, các sản phẩm sạch của bà con nông dân.

>> Bên cạnh việc thay đổi nhận thức tiêu dùng của người dân hướng sang sản phẩm sạch, nói “không” với thực phẩm không an toàn, thì vấn đề của ngành chăn nuôi là phải cung cấp sản phẩm sạch ở mức giá có sức cạnh tranh tốt. Người nội trợ đánh giá, sản phẩm sạch hiện đắt hơn 2 – 3 lần thực phẩm bán trên thị trường nói chung.          

Nguồn: Nguoichannuoi

Nuôi vịt chạy đồng ‘một vốn, bốn lời’

Đã nhiều năm nay, nông dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An phát triển nghề nuôi vịt chạy đồng, theo các vụ lúa trong năm. Nghề này không những giảm được chi phí đầu tư, nâng cao hiệu quả kinh tế mà còn cung cấp nguồn thực phẩm sạch cho thị trường.

Vào vụ thu hoạch, nông dân Yên Thành bắt đầu thả vịt ra đồng để tìm kiếm thức ăn tự nhiên từ các cánh đồng lúa.

Vào vụ thu hoạch, nông dân Yên Thành bắt đầu thả vịt ra đồng để tìm kiếm thức ăn tự nhiên từ các cánh đồng lúa.

Đã nhiều năm nay, anh Trần Quang Giang (xóm 9, xã Xuân Thành) đầu tư phát triển chăn nuôi vịt chạy đồng. Khi cây lúa bắt đầu trổ bông, cũng là thời điểm anh nuôi vịt. Theo kinh nghiệm, anh đặc biệt chú trọng chăm sóc đàn vịt giai đoạn vịt con mới nở, chưa đủ sức để tìm mồi. Thức ăn cho vịt giai đoạn này chủ yếu là cám gạo và cám ngô trộn lẫn với cua, ốc bằm nhỏ, để đảm bảo đủ chất dinh dưỡng. Vịt chạy đồng sống trong môi trường tự nhiên nên trong 25 ngày đầu, vịt được tiêm các mũi phòng dịch bệnh.

Vào vụ thu hoạch lúa, anh sẽ thả vịt ra đồng để ăn những hạt thóc rơi vãi và tìm kiếm các loại mồi tự nhiên.Trung bình mỗi vụ, anh Giang nuôi trên 2.000 con vịt, chỉ sau 2 tháng chăn thả, vịt có trọng lượng từ 1,8-2 kg/con.

Riêng vụ hè thu năm nay, gia đình anh đã đầu tư 60 triệu đồng để nuôi 2.500 con vịt chạy đồng, dự kiến khoảng hơn 1 tháng nữa sẽ xuất bán 5 tấn vịt thương phẩm. Với giá thị trường hiện nay 35 ngàn đồng/kg, gia đình anh sẽ thu về khoảng 170 triệu đồng, trừ chi phí đầu tư ban đầu, sẽ đưa lại một nguồn lãi cao chỉ trong khoảng thời gian ngắn.

Với tiềm năng lợi thế của một huyện nông nghiệp, có trên 13 ngàn ha canh tác, mỗi năm sản xuất 2 vụ lúa và có gần 2.000 ha ao hồ mặt nước, chưa kể hệ thống sông ngòi, kênh rạch… nghề nuôi vịt chạy đồng đã trở thành nghề truyền thống của nông dân Yên Thành.

Vịt nuôi chạy đồng thường là giống vịt cỏ địa phương hoặc vịt lai nên có sức đề kháng cao và rất nhanh nhẹn. Do vận động nhiều nên vịt trọng lượng của vịt chạy đồng không lớn như một số giống vịt khác nhưng thịt lại săn chắc, thơm ngon và giàu chất dinh dưỡng. Vịt chạy đồng là nguồn thực phẩm sạch, hiện rất được thị trường ưa chuộng nên đầu ra luôn ổn định.

Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của nhiều hộ dân, nuôi vịt chạy đồng không phải năm nào cũng thuận lợi. Do vịt kiếm ăn từ các cánh đồng trải dài nên thường bị hao hụt tổng đàn. Mặc dù, từ khi con giống nuôi thả đã được phòng dịch nhưng dịp thời tiết nắng, mưa thất thường, vịt chạy trên đồng thường dễ mắc bệnh. Do đó, người nuôi phải thường xuyên trông coi, để có biện pháp chăn nuôi và phòng dịch phù hợp.

Hiện nay, trên địa bàn huyện Yên Thành, ngoài 200 nghìn con vịt gốc đang được nuôi nhốt để cung cấp con giống và trứng thương phẩm, mỗi mùa vụ còn có khoảng 400 nghìn con vịt được nuôi thả trên đồng ruộng. Nhiều hộ có điều kiện kinh tế và lao động thường nuôi từ 3 – 4 nghìn vịt chạy đồng, chủ yếu được cung cấp bằng nhiều nguồn thức ăn tự nhiên sẵn có trên đồng ruộng nên vịt nhanh lớn, chỉ sau 2 tháng vịt sẽ đủ tiêu chuẩn để xuất bán, giảm được nhiều chi phí đối với người chăn nuôi.

Nghề chăn nuôi vịt chạy đồng ở huyện lúa Yên Thành đang trở thành nghề cho thu nhập ổn định, góp phần giải quyết việc làm và làm giàu chính đáng cho người nông dân.

Nguồn: Báo Nghệ An

An Giang: Sẽ quy hoạch vùng nuôi heo ứng dụng công nghệ cao

Ngày 14-9, Chủ tịch UBND tỉnh An Giang Vương Bình Thạnh dẫn đầu đoàn công tác của tỉnh khảo sát thực tế tình hình đầu tư chăn nuôi heo ứng dụng công nghệ cao (CNC) tại Tri Tôn, kết hợp làm việc với 2 huyện Tri Tôn và Tịnh Biên.

Tham quan mô hình trại heo giống CNC của Công ty TNHH Giống – Chăn nuôi Việt Thắng An Giang, Chủ tịch UBND tỉnh Vương Bình Thạnh hoan nghênh doanh nghiệp đã chọn An Giang làm điểm đầu tư, cung cấp con giống và tinh heo chất lượng cao cho cả nước, từng bước giảm lệ thuộc về con giống, thức ăn chăn nuôi vào các tập đoàn nước ngoài. Đối với mô hình chăn nuôi heo CNC của Trại heo Hoàng Vĩnh Gia, Chủ tịch UBND tỉnh cho rằng, đây là mô hình hiệu quả, lợi nhuận ổn định, khả năng thu hồi vốn cao…

Theo đó, Chủ tịch UBND tỉnh Vương Bình Thạnh giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN-PTNT) phối hợp Sở Khoa học – Công nghệ tham mưu quy hoạch vùng nông nghiệp ứng dụng CNC đối với vùng nuôi heo ở Tri Tôn, Tịnh Biên theo tiêu chuẩn của Bộ NN-PTNT để được hưởng chính sách ưu đãi. Đồng thời, điều chỉnh chính sách hỗ trợ các hộ gia đình, cá nhân, hợp tác xã trên địa bàn tỉnh phát triển chăn nuôi heo thịt, sử dụng nguồn heo giống chất lượng cao do Công ty TNHH Giống – Chăn nuôi Việt Thắng cung cấp. Tỉnh sẽ xem xét giảm lãi suất cho vay từ Quỹ hỗ trợ của tỉnh để khuyến khích doanh nghiệp mở rộng sản xuất, nhất là đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp…

Nguồn: Báo An Giang

An Giang: Người nuôi bò đạt hiệu quả kinh tế cao

Đó là khẳng định của ông Nguyễn Văn Châu, nông dân nuôi bò thịt, xã Vĩnh Hòa (TX. Tân Châu) khi đề cập tình hình chăn nuôi bò thịt hiện nay.

nuoi-bo

Ông Châu cho biết, nếu trước đây, 1 con bê giống giá từ 17 – 18 triệu đồng/con, nay chỉ còn 12 – 13 triệu đồng/con, trong khi giá bò hơi được thương lái mua bình quân từ 65.000 – 72.000 đồng/kg (mức giá cũ). Với thời gian nuôi vỗ béo từ 8 – 12 tháng, sau khi trừ các khoản chi phí, mỗi con bò nông dân lãi ít nhất 10 triệu đồng. Hiện, tổng đàn bò của gia đình ông Châu lên đến 32 con, mức lãi này đã tạo nguồn thu nhập chính, hiệu quả cho gia đình ông.
Đàn bò của tỉnh hiện đạt khoảng 100.000 con, tập trung nhiều ở các huyện Tri Tôn, Tịnh Biên, Châu Phú, Chợ Mới và TX. Tân Châu. Khoảng 1 năm trước, giá bê giống luôn ở mức cao, người nuôi không có lãi nhiều nên đã bán hết. Nay, thị trường trong tỉnh đang thiếu hụt bò thịt cỡ lớn.
Nguồn: Báo An Giang

TP Hồ Chí Minh: Duy trì đàn bò sữa 100.000 con

UBND TP Hồ Chí Minh vừa phê duyệt Đề án nâng cao chất lượng đàn bò sữa trên địa bàn thành phố giai đoạn 2016 – 2020. Theo đề án này, TP Hồ Chí Minh phấn đấu duy trì đàn bò sữa ổn định ở mức 100.000 con, trong đó cơ cấu đàn cái sinh sản chiếm 60 – 70% và đàn cái vắt sữa chiếm 50% tổng đàn.

Phấn đấu đến năm 2020, năng suất sữa bình quân đạt 7.700 kg/con/năm (tương đương 21 kg/con/ngày); sản lượng sữa hàng hóa năm 2020 đạt 360.000 tấn/năm. Cả giai đoạn 2016 – 2020 là 1,6 triệu tấn (tăng 28,5% so với năm 2015 và 26,91% so với giai đoạn 2011 – 2015).

Cũng theo đề án, thành phố đặt chỉ tiêu chất lượng sữa có hàm lượng chất béo 3,5 – 4%, protein sữa 3 – 3,5%, vật chất khô 12 – 13,5%, số lượng tế bào somatic 600.000 – 700.000 tế bào/ml; không còn tình trạng tồn dư kháng sinh trong sữa hoặc trộn lẫn các hóa chất vào sữa nguyên liệu.

Thành phố sẽ áp dụng các tiêu chí thực hành chăn nuôi tốt (VietGAHP) trong chăn nuôi bò sữa tại nông hộ; tỷ lệ cơ giới hóa, hiện đại hóa trong chăn nuôi bò sữa đạt 50 – 60%; tỷ lệ sử dụng thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (TMR) lên 45 – 50%.

Theo đó, đàn giống bò sữa đạt trọng lượng bê sơ sinh 30 kg/con, trọng lượng lúc cai sữa 95 kg/con, tuổi phối giống lần đầu 15 – 16 tháng, tuổi đẻ lứa đầu 24 – 25 tháng, khoảng cách 2 lứa đẻ 400 – 425 ngày, số liều phối giống cho con đậu thai 2,5 – 3 liều/con.

Đề án cũng yêu cầu khống chế được một số bệnh trên bò sữa như lở mồm long móng, lao, Brucellosis, Leptospirosis và ký sinh trùng đường máu trên bò sữa.

Nguồn: Người chăn nuôi

Nâng cao vị thế sản phẩm

Danh hiệu “Sản phẩm Vàng chăn nuôi gia cầm Việt Nam” được tổ chức với mong muốn tôn vinh những sản phẩm gia cầm chất lượng cao; khẳng định thương hiệu doanh nghiệp, người chăn nuôi gia cầm Việt Nam; thúc đẩy phong trào lao động, sáng tạo khoa học kỹ thuật; góp phần đưa ngành gia cầm Việt Nam phát triển bền vững và hội nhập quốc tế thành công.

“Sân chơi” lớn cho mọi nhà

Chương trình do Hiệp hội Chăn nuôi Gia cầm Việt Nam phối với Cục Chăn nuôi, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia và Công ty TNHH Truyền thông VietnamMedia tổ chức. Dự kiến, Lễ tôn vinh và trao Danh hiệu được diễn ra vào tháng 11/2016 tại Hà Nội. Thông qua Chương trình, nhiều sản phẩm có chất lượng tốt, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, đáp ứng các tiêu chí bảo vệ môi trường của ngành gia cầm Việt Nam sẽ được vinh danh, có cơ hội quảng bá trực tiếp đến tay người tiêu dùng tại thị trường nội địa và quốc tế; từ đó giúp các doanh nghiệp có thêm động lực để xây dựng thương hiệu, sản phẩm mang tầm quốc tế, có thêm hành trang trong hoạt động sản xuất kinh doanh khi Việt Nam bước vào sân chơi hội nhập kinh tế thế giới và tham gia thành công vào các Hiệp định tự do thương mại.

Ông Nguyễn Thanh Sơn, Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi Gia cầm Việt Nam, cho biết: “Danh hiệu này được tổ chức nhằm tạo sân chơi cho tất cả doanh nghiệp, tập thể, cá nhân hoạt động sản xuất kinh doanh, nghiên cứu trong lĩnh vực chăn nuôi gia cầm trên lãnh thổ Việt Nam tham gia và tỏa sáng. Chương trình hứa hẹn sẽ thu hút nhiều đối tượng trong ngành”.

Tất cả các sản phẩm của ngành chăn nuôi nói chung, chăn nuôi gia cầm nói riêng đều có cơ hội tham gia bình xét, bao gồm: Con giống (gà, vịt, ngan, ngỗng, đà điểu, chim cút…); thức ăn chăn nuôi; thuốc thú y và chế phẩm sinh học (vaccine…); sản phẩm chăn nuôi gia cầm (trứng, thịt gia cầm sống, chế biến); thiết bị chuồng trại, chế biến giết mổ.

Tiêu chí rõ ràng

Theo quy định của Ban tổ chức, các sản phẩm tham gia Chương trình bình chọn được phân theo 6 nhóm chính: Nhóm giống gà, vịt, ngan, ngỗng… sinh sản, nuôi thịt; Nhóm giống gà, vịt, ngan, ngỗng… đẻ trứng; Nhóm thức ăn chăn nuôi gia cầm; Nhóm thuốc thú y, chế phẩm sinh học; Nhóm sản phẩm chăn nuôi gia cầm (trứng, thịt); Nhóm thiết bị chuồng trại, dụng cụ giết mổ, chế biến sản phẩm.

Tất cả các sản phẩm của ngành chăn nuôi gia cầm đều có cơ hội bình xét Danh hiệu - chăn nuôi

Tất cả các sản phẩm của ngành chăn nuôi gia cầm đều có cơ hội bình xét Danh hiệu

Hồ sơ các sản phẩm tham gia bình chọn được lập theo mẫu và khung nội dung do Ban tổ chức quy định. Khi khai hồ sơ, doanh nghiệp, tập thể, cá nhân nên bám sát các tiêu chí cơ bản để cung cấp nội dung thông tin phục vụ công tác đánh giá. Đơn vị tham gia Chương trình chịu trách nhiệm về tính trung thực của thông tin trong hồ sơ.

Sau khi Ban tổ chức tiếp nhận hồ sơ đăng ký tham gia, Ban thư ký sẽ phân loại theo nhóm sản phẩm và chuyển đến Hội đồng bình xét chấm điểm dựa theo thang điểm quy định của Ban tổ chức, đáp ứng 4 tiêu chí chính. Thứ nhất là về quản lý (được cơ quan có thẩm quyền cho phép sản xuất; công bố tiêu chuẩn chất lượng rõ ràng trên bao bì, nhãn mác). Thứ hai là hiệu quả kinh tế – xã hội (hiệu quả kinh tế; hiệu quả xã hội; thay thế sản phẩm nhập khẩu trong nước; công tác bảo vệ môi trường; có chính sách vì quyền lợi khách hàng). Thứ ba là tính khoa học và thực tiễn (sản phẩm mang tính mới; sản phẩm được ứng dụng rộng rãi). Và cuối cùng là thành tích khen thưởng liên quan đến sản phẩm (huy chương tại các hội chợ triển lãm; đạt các giải thưởng chất lượng, giải thưởng khoa học công nghệ).

Ngoài những tiêu chí trên, năng lực của doanh nghiệp cũng là một trong những yếu tố được Ban tổ chức xem xét, đánh giá bên cạnh các yếu tố về sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp nhằm đảm bảo sự ổn định và phát triển bền vững trong tương lai của các sản phẩm dịch vụ được công nhận Danh hiệu Sản phẩm Vàng.

Các tiêu chí là cơ sở để các Hội đồng Bình xét xem xét, đánh giá. Kết quả đánh giá, bình chọn dựa theo biểu quyết của các thành viên Hội đồng. Căn cứ trên kết quả của Hội đồng bình chọn Chung tuyển, Ban tổ chức sẽ ra quyết định công nhận Danh hiệu Sản phẩm Vàng chăn nuôi gia cầm Việt Nam của năm.

Nguồn: Nguoichannuoi

Chăn nuôi bứt phá 6 tháng đầu năm

Theo Bộ NN&PTNT, trong 6 tháng đầu năm, nếu ngành trồng trọt suy giảm mạnh tới 3% do ảnh hưởng của rét đậm và hạn mặn thì ngược lại, chăn nuôi bứt phá với mức tăng trưởng tới 4,7%, trong đó lợn và gia cầm có mức tăng mạnh nhất.

Lợn, gia cầm tăng đàn

Trong lĩnh vực nông nghiệp, chăn nuôi có mức tăng trưởng cao nhất tới 4,7% do chăn nuôi lợn và gia cầm phát triển tốt. Ước tính tổng số lợn cả nước 6 tháng đầu năm là 28,3 triệu con, tăng 3,9% so cùng kỳ năm 2015; số gia cầm đạt 341,5 triệu con, tăng 4,3%. Ông Nguyễn Xuân Dương, Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi cho biết, chăn nuôi lợn tăng là do những tháng đầu năm, chúng ta đã xuất khẩu được nhiều lợn sang Trung Quốc. Tuy vậy, lĩnh vực này hiện phát triển quá nhanh, tiềm ẩn nhiều mối nguy về ô nhiễm môi trường. Bởi, Trung Quốc đã đóng cửa nhiều trại chăn nuôi lợn vì gây ô nhiễm môi trường và phải quay sang nhập khẩu lợn của Việt Nam, khiến nhu cầu phát triển đàn lợn tăng cao.

chăn nuôi có mức tăng trưởng cao nhất trong nông nghiệp tính đến 6/2016 - chăn nuôi

6 tháng đầu năm 2016, chăn nuôi có mức tăng trưởng cao nhất trong lĩnh vực nông nghiệp Ảnh: Quang Quyết

Biến động về giá

Cùng với đó, giá thịt tại thị trường trong nước những tháng đầu năm khá nhiều biến động. Về thịt, trong tháng 6, giá thu mua lợn hơi tại nhiều địa phương vẫn đang diễn biến theo xu hướng giảm. Theo đó, tại trại ở khu vực Đông Nam bộ đã giảm 3.500 đồng/kg, xuống mức 45.000 đồng/kg; tại các tỉnh ĐBSCL giảm 1.000 đồng/kg, xuống mức 46.500 đồng/kg; tại Nam Định giảm 2.000 đồng/kg, xuống mức 42.000 đồng/kg.

Cùng chiều với giá lợn hơi, giá thu mua gà công nghiệp lông màu và lông trắng cũng đang diễn biến theo xu hướng giảm do nguồn cung dồi dào. Cụ thể, giá thu mua gà công nghiệp lông màu tại Đông Nam bộ đã giảm 500 – 1.000 đồng/kg so hồi đầu tháng, xuống mức 35.000 – 36.000 đồng/kg; ĐBSCL giảm 1.000 – 2.000 đồng/kg, xuống mức 36.000 – 37.000 đồng/kg. Giá thu mua gà công nghiệp lông trắng có xu hướng giảm mạnh hơn so với gà lông màu. Nhìn chung, trong 6 tháng đầu năm 2016, thị trường lợn hơi biến động tăng do nhu cầu xuất khẩu sang Trung Quốc cũng như nội địa tăng. Tuy nhiên, đến giữa tháng 5/2016, Trung Quốc đột ngột ngừng nhập lợn hơi qua đường tiểu ngạch do tăng cường công tác kiểm soát kiểm dịch đối với mặt hàng thực phẩm vào nội địa, khiến giá lợn hơi tại Việt Nam bắt đầu giảm.

Nhiệm vụ 6 tháng cuối năm

Tập trung thực hiện Tái cơ cấu ngành chăn nuôi (theo Quyết định số 984/QĐ-BNN-CN ngày 9/5/2014 của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT), trong đó sẽ xây dựng, triển khai một số chương trình, đề án phục vụ tái cơ cấu ngành chăn nuôi như: “Phát triển chăn nuôi lợn thịt theo hướng an toàn dịch bệnh gắn với giết mổ, chế biến và định hướng xuất khẩu”, “Đề án xây dựng vùng chăn nuôi bò thịt” và các chính sách khuyến khích, hỗ trợ người chăn nuôi.

Tiếp tục chỉ đạo các địa phương tập trung tăng cường các biện pháp quản lý chất lượng giống vật nuôi, thức ăn chăn nuôi, trong đó có các loại thức ăn bổ sung và chất cấm sử dụng trong chăn nuôi. Phối hợp kiểm tra, giám sát tình hình nhập lậu gia súc, gia cầm nhằm ổn định thị trường, bảo vệ sản xuất trong nước.

Tập trung chỉ đạo các biện pháp giám sát, chủ động phòng chống dịch bệnh; tiếp tục triển khai Chương trình hành động về vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường trong chăn nuôi.

Chuẩn bị các điều kiện để đảm bảo ổn định sản xuất chăn nuôi trong mùa mưa, bão; phòng chống nắng nóng cho gia súc, gia cầm trong vụ hè thu 2016 và phòng chống đói, chống rét cho đàn trâu, bò trong vụ đông xuân 2016 – 2017; chỉ đạo sát sao công tác phòng, chống dịch bệnh đối với những địa phương đang còn dịch, những địa phương không có dịch cần tập trung phát triển sản xuất, đảm bảo nguồn thực phẩm cho các dịp lễ, Tết cuối năm.

> Thứ trưởng Thường trực Bộ NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường cho biết, chăn nuôi là ngành hiếm hoi được mùa cả về các loại con, giá cả, thị trường nội địa và xuất khẩu. 6 tháng cuối năm rất mong ngành tận dụng, khai thác lợi thế để tạo đà phát triển mạnh mẽ.

Nguồn: nguoichannuoi

%d bloggers like this: