Bột Cá Biển

Cơ sở sản xuất bột cá Nguyễn Thị Sậu cung cấp bột cá biển (Cá Ngừ) 55 đạm, không pha tạp chất. Tel: 0966 245 345

Category Archives: Bột cá Nguyễn Thị Sậu

Công thức phối trộn thức ăn cho cá đạt năng suất cao

Thức ăn là một yếu tố đóng vai trò quyết định đến năng suất cá trong mỗi vụ nuôi. Vì thế công thức phối trộn thức ăn cho cá là vô cùng cần thiết để tạo ra được nguồn dinh dưỡng cân bằng cho cá phát triển tốt nhất. Vậy đâu là công thức chế biến thức ăn cho cá hiệu quả nhất hiện nay? Bài viết sau đây sẽ giải đáp cho quý bạn đọc câu hỏi này.

1. Những nguyên liệu thường được sử dụng:

  • Nhóm nguyên liệu tươi:

Trong công thức phối trộn thức ăn cho cá thì nguyên liệu tươi cực kì quan trọng. Đây là những nguyên liệu có nguồn gốc động vật như cá tạp, ốc, tôm tép, giun…và có nguồn gốc thực vật như rau, bèo, cỏ, lá xanh… Nhóm nguyên liệu này thường được chế biến cho cá ăn ngay trong ngày hoặc có thể ủ lên men rồi mới cho ăn.

  • Nguyên liệu khô:

Công thức chế biến thức ăn cho cá đối với nguyên liệu khô khá dễ. Đây là nguyên liệu có nguồn gốc thực vật gồm các loại hạt như ngô, gạo, đậu tương, sắn…và nguồn gốc động vật như bột cá, thịt, xương, cám gạo, hay đậu nành… Những nguyên liệu này có thể cho cá ăn trực tiếp. Khi các nhiều nguyên liệu này được hòa trộn với nhau một theo tỷ lệ nhất định, sau đó cho cá ăn thì được gọi là thức ăn chế biến. Ví dụ về công thức pha trộn thức ăn cho cá như sau: khi trộn bột ngô với bột cá thì cần phải nghiền nhỏ hoặc thể dùng máy băm nghiền đa năng 3A để nghiền nhỏ các nguyên liệu thành bột mịn giúp tăng khả năng tiêu hóa của cá.

Trong những năm gần đây có rất nhiều công thức phối trộn thức ăn cho cá nhằm phục vụ nhu cầu nuôi cá của bà con.

2. Một số loại hình trong công thức phối trộn thức ăn cho cá

  • Thức ăn ở dạng viên: các nguyên liệu khô thường được phối trộn theo công thức, sau đó trộn với nước đủ ẩm rồi đưa vào máy ép viên. Sau khi tạo viên xong, thức ăn được phơi nắng hoặc sấy khô rồi đóng bao cho cá ăn dần. Đây là công thức pha trộn thức ăn cho cá phổ biến rộng rãi hiện nay.
  • Phương pháp đơn giản và dễ làm nhất là trộn nguyên liệu dạng bột với một ít nước sạch gồm: cám gạo, bột ngô, thóc nghiền, bột đỗ tương, khô dầu sau đó nghiền nhỏ, trộn đều và vắt thành các nắm, cho vào máng ăn cho ăn hằng ngày; lượng thức ăn chỉ từ 2 đến 4% tổng khối lượng cá mỗi ngày. Ngoài ra để tạo chất kết dính cho thức ăn có thể cho thêm 2-4% bột sắn, sau đó đun chín và cắt thành từng miếng cho cá ăn. Công thức phối trộn thức ăn cho cá như thế này khá dễ làm và không quá tốn kém.
  • Có thể cấy men: Gồm men rượu, men bánh mì, men bia…để trộn và ủ thức ăn để cho cá ăn ngay. Bên cạnh đó, có thể ủ lên men nguyên liệu rồi dùng máy ép đùn tạo thành viên, rồi phơi khô hoặc sấy để dùng dần. Các loại thức ăn ủ men có ưu điểm là mùi vị thơm, giá trị dinh dưỡng cao, cũng như dễ tiêu hóa và kích thích tính sự thèm ăn của cá. Loại thức ăn này không thể bảo quản lâu nên mỗi lần ủ chỉ vừa đủ cho cá ăn trong khoảng 2-3 ngày. Công thức pha trộn thức ăn cho cá như vậy rất thích hợp trong việc cho cá ăn và tăng trưởng nhanh.
  • Các loại bột mịn nấu chín thành chất loãng dùng cho cá giống. Nên trộn các nguyên liệu tươi với dạng bột với nhau nấu chín thành dạng đặc để cho các loại cá ăn. Đây là một trong những công thức chế biến thức ăn cho cá phổ biến và dễ thực hiện.

3. Công thức chế biến thức ăn cho cá

  • Việc đầu tiên khi chế biến thức ăn cho cá là phải kiểm tra nguyên liệu nhằm loại bỏ các sản phẩm bị mối mọt, iu thối hay nấm mốc.
  • Tiếp theo, đem cân nguyên liệu rồi tiến hành theo công thức pha trộn thức ăn cho cá, nghiền và phối trộn đều các nguyên liệu lại với nhau. Các nguyên liệu đem nghiền mịn và cân theo tỉ lệ định trước, sau đó phối trộn đều. Nấu chín thức ăn, để nguội, rồi làm nhỏ thức ăn hoặc vo thành viên cho cá ăn. Thức ăn chín rất tốt và giúp cá hấp thụ dinh dưỡng tốt hơn đồng thời giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước trong ao nuôi.
  • Nguồn nguyên liệu từ sản phẩm nông nghiệp dùng để chế biến thức ăn cho cá luôn được bảo quản an toàn, tránh bị ẩm và nấm mốc gây hại. Còn các sản phẩm đã bị nấm mốc cần phải thải loại ngay.
  • Trong công thức phối trộn thức ăn cho cá, đối với thức ăn tươi trước khi chế biến cần rửa sạch, sau đó nghiền vừa cỡ miệng cá, rồi cho cá ăn ngay khi còn tươi. Loại thức ăn này rất thích hợp với các loại cá trê, trắm cỏ, chim trắng, rô phi, chép…

Ngoài ra, việc chế biến thức ăn hỗn hợp phải chuẩn bị nguyên liệu có giá trị dinh dưỡng và phối chế thích hợp để sử dụng có hiệu quả và kinh tế nhất. Với những bà con nuôi cá basa ở miền Bắc thì việc sử dụng công thức này khá hợp lý.

Công thức tính phối trộn thức ăn cho cá có thể thực hiện như ví dụ sau:

Bột cá biển, bột cá Ngừ sấy khô 55% độ đạm, 10% độ ẩm

Bột cá biển, bột cá Ngừ sấy khô 55% độ đạm, 10% độ ẩm

30% bột ngô + 10% bột cá +20% bột đỗ tương + 30% cám + 10% thóc nghiền.

Thực tế cho thấy một số loại nguyên liệu thuộc họ đậu, đỗ có chứa các thành phần khó tiêu hóa. Vì vậy, việc sử dụng men ủ sẽ giúp cá dễ tiêu hóa hơn, gia tăng sức đề kháng. Công thức phối trộn thức ăn cho cá cần được bổ sung thuốc bằng cách phối trộn chung với các nguyên liệu khác khi cá bị bệnh. Với những thức ăn được nấu chín, cần chú ý để nguội nhằm tránh để các thành phần trong thuốc bị phân hủy.
Công thức này có thể áp dụng với các loại thức ăn dành cho cá diêu hồng, cá tra, cá chép,…

Chúng tôi nhận thấy, khá nhiều bà con luôn có câu hỏi “Nuôi cá gì có giá trị kinh tế cao” nhưng để đạt năng suất cần có cách sử dụng công thức phối trộn thức ăn cho cá hợp lý.Với bất cứ hình thức nuôi cá nào thì thức ăn vẫn là một trong những yếu tố quan trọng nhất. Do đó, công thức chế biến thức ăn cho cá đúng cách thì sẽ giúp giảm được chi phí đầu vào, đồng thời còn làm tăng năng suất và sản lượng cá sau mỗi mùa vụ. Trên đây là một số công thức phối trộn thức ăn cho cá mà bà con có thể áp dụng.

Nguồn: Sưu tầm

Advertisements

Xúc tiến xuất khẩu thịt heo Việt Nam

Ngày 20/10/2017, tại Hà Nội, Bộ NN&PTNT đã tổ chức “Diễn đàn xúc tiến xuất khẩu thịt heo Việt Nam” dưới sự chủ trì của Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường. Diễn đàn được xem là nơi để tìm ra giải pháp tháo gỡ những vướng mắc trong quá trình xuất khẩu thịt heo ở nước ta.

Tham dự Diễn đàn, có sự góp mặt của các đại sứ quán và doanh nghiệp nước ngoài hiện đầu tư vào ngành chăn nuôi Việt Nam như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Hà Lan, Nga, Philippines, Singapore; Đại diện Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, Tổng hội Nông nghiệp Việt Nam. Ngoài ra còn có đông đảo các đại biểu là các chuyên gia ngành chăn nuôi, thú y, đại diện lãnh đạo UBND, Sở NN&PTNT các tỉnh thành, các doanh nghiệp chuyên về chăn nuôi và xuất khẩu, các chủ trang trại chăn nuôi heo điển hình tại một số địa phương.

Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường phát biểu tại Diễn đàn

Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường phát biểu tại Diễn đàn

Theo báo cáo tại Diễn đàn, cả nước đang có 29 triệu con heo, với sản lượng khoảng 2,2 triệu tấn thịt heo mỗi năm. Với sự tham gia của các doanh nghiệp lớn, đặc biệt là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực này, việc sản xuất dư thừa thịt heo sẽ khó tránh khỏi trong thời gian tới. Vì vậy, cần nhanh chóng xúc tiến xuất khẩu thịt heo.

Toàn cảnh Diễn đàn

Tuy nhiên, cho đến nay, mới chỉ có 8 cơ sở xuất khẩu sản phẩm thịt hưeo đông lạnh sang thị trường các nước, tất cả đều là xuất khẩu heo sữa hoặc heo choai. Số còn lại là các sản phẩm chế biến từ thịt như ruốc và giò chả.

Về xuất khẩu thịt heo tươi sống vẫn còn nhiều khó khăn, đặc biệt là vấn đề kiểm soát an toàn dịch bệnh. Hiện nay, tất cả các thị trường nhập khẩu đều yêu cầu thịt heo phải có nguồn gốc từ các quốc gia hoặc vùng xuất khẩu không có bệnh lở mồm long móng được Tổ chức Thú y thế giới (OIE) công nhận. Tuy nhiên, hiện Việt Nam chưa được OIE công nhận đã sạch bệnh lở mồm long móng, vẫn chưa đủ điều kiện để xuất khẩu.

Lễ ký kết Thỏa thuận thực hiện liên kết chuỗi sản xuất thịt heo sạch, an toàn hướng đến xuất khẩu
Lễ ký kết Thỏa thuận thực hiện liên kết chuỗi sản xuất thịt heo sạch, an toàn hướng đến xuất khẩu

Nhiều doanh nghiệp cho biết, họ đã nhận được khá nhiều đơn đặt hàng từ các đối tác nhập khẩu, có những đơn hàng lên tới hàng nghìn tấn. Thế nhưng, vấn đề đặt ra là làm thế nào, các bên có những cam kết nhập khẩu từ phía các chính phủ, để mở rộng thị trường xuất khẩu và có một tiêu chuẩn chung về dịch bệnh cũng như chất lượng sản phẩm.

Cũng tại diễn đàn, nhiều kinh nghiệm quốc tế đã được chia sẻ trong vấn đề kiểm soát và hướng tới xây dựng vùng an toàn dịch bệnh lở mồm long móng của một số nước trong khu vực có điều kiện tương đồng như Việt Nam; đáng chú ý là mô hình của Philippines.

Trong dịp này, Tập đoàn De Heus Châu Á, Tập đoàn Hùng Nhơn và Câu lạc bộ Nông nghiệp Công nghệ cao Việt Nam, Công ty CP và Đầu tư Thương mại Biển Đông cùng với Công ty máy móc Daewon đã cùng ký kết Thỏa thuận thực hiện liên kết chuỗi sản xuất thịt heo sạch để xuất khẩu. Sự tham gia ký kết này đã mở ra một hướng đi chung trong chiến lược phát triển của các bên với mục đích mang lại cho cộng đồng chuỗi giá trị cung ứng thịt heo sạch, an toàn hướng đến xuất khẩu.

>> Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường nhấn mạnh: “Thị trường có, điều kiện chúng ta có thể làm được, vấn đề là hành động tổ chức quyết liệt. Cấp Chính phủ, cụ thể là Bộ NN&PTNT vào cuộc cùng Bộ Công thương mở rộng thị trường, chỉ đạo sản xuất an toàn dịch bệnh cùng với các thủ tục, quy trình chuyên môn xuất khẩu. Những việc gì thuộc Chính phủ là phải đồng bộ, quyết liệt”.

 

Phát triển giống vịt biển phục vụ chăn nuôi biến đổi khí hậu

Sáng 8/11, tại Long An đã diễn ra Hội nghị “Phát triển giống vịt biển phục vụ chăn nuôi thích ứng biến đổi khí hậu tại Nam Bộ”. Hội nghị do Phân viện Chăn nuôi Nam Bộ phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Chăn nuôi Gia cầm (Vigova) tổ chức

Theo Viện Chăn nuôi, Nam Bộ có tổng đàn vịt hàng năm khoảng 28 triệu con; riêng ĐBSCL phát triển chăn nuôi vịt mạnh nhất cả nước với tổng đàn vịt chiếm 26 triệu con, tỷ lệ trên 40% trên tổng đàn gia cầm tại khu vực, trong những năm qua chăn nuôi vịt đang phát triển mạnh cả về năng suất, chất lượng và hiệu quả. Tuy nhiên ngành nông nghiệp đang đối mặt với  nhiều khó khăn thách thức về biến đổi khí hậu, tái cơ cấu ngành, chọn vật nuôi phù hợp với biến đổi khí hậu.

Hội nghị

Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm tại Hội nghị

Do vậy Vigova đã nghiên cứu ra giống vịt biển có nhiều ưu điểm, có thể nuôi ở nước ngọt, lợ và nước mặn thậm chí nhiễm phèn. Bộ NN&PTNT giao Vigova nuôi giữ đàn giống gốc vịt biển để chọn lọc nhân nhanh giống phục vụ tái cơ cấu nông nghiệp, chăn nuôi thích ứng với biển đổi khí hậu. Tại Long An, trong năm 2016 – 2017, Trung tâm Khuyến nông Long An phối hợp Vigova hỗ trợ cho 20 hộ dân ở các huyện Tân Trụ, Cần Đước, Châu Thành nuôi thử nghiệm giống vịt biển với số lượng 16.000 con. Kết quả cho thấy, vịt sinh trưởng, phát triển khá tốt, tỷ lệ nuôi sống rất cao, sức kháng bệnh tốt, thích nghi được cả môi trường nước lợ và nước mặn ở các huyện vùng hạ của tỉnh. Giống vịt biển có thể chịu được độ mặn tới 23‰ trong khi vịt thường, độ mặn khoảng 4‰ đã không thể sống được. Với lợi thế này, mô hình nuôi vịt biển đang mở ra triển vọng cho nông dân trong việc đa dạng hóa loại vật nuôi, phù hợp với biến đổi khí hậu hiện nay.

Cũng tại đây, các đại biểu đã chia sẻ thông tin về định hướng phát triển, kết quả nghiên cứu mới nhất về năng suất chất lượng thịt trứng cũng như hiệu quả ban đầu nuôi giống vịt biển tại Nam Bộ góp phần phát triển chăn nuôi vịt biển có hiệu quả bền vững.

Nguồn: Người chăn nuôi

Đẩy mạnh sản xuất bột cá và dầu cá bền vững toàn cầu

Bột cá biển, bột cá Ngừ sấy khô 55% độ đạm, 10% độ ẩm

Bột cá biển, bột cá Ngừ sấy khô 55% độ đạm, 10% độ ẩm

Việc tăng cường tính bền vững trong ngành thức ăn nuôi trồng thủy sản ngày càng được đề cao.

Quan điểm này đã được trình bày trong bài Tổng quan về tính bền vững hàng năm của Tổ chức Đối tác Thủy sản Bền vững SFP về các nguồn lợi thủy sản sử dụng làm bột cá và dầu cá trong năm 2017. Bản Tổng quan bao gồm 20 nguồn lợi thủy sản quan trọng nhất được sử dụng để sản xuất bột cá và dầu cá nhưng không bao gồm các nguồn lợi thủy sản phục vụ sản xuất bột cá và dầu cá ở châu Á do số liệu sẵn có hạn chế.

Các nguồn lợi thủy sản được đánh giá dựa trên tính bền vững được trình bày trên website http://www.fishsource.org và sử dụng số liệu được công bố vào tháng 8/2017.

Báo cáo bao gồm 20 trữ lượng loài được phân tích trong năm 2017:

– Ngành sản xuất thức ăn nuôi trồng thủy sản đóng vai trò quan trọng trong việc đẩy mạnh cải tiến thông qua các dự án hỗ trợ cải thiện nghề cá. Ngành bột cá và dầu cá cũng đóng một vai trò mạnh mẽ trong việc thúc đẩy việc quản lý có trách nhiệm hơn về các nguồn lợi thủy sản sử dụng làm bột cá và dầu cá.

– 81% tổng sản lượng đánh bắt trong phân tích này là từ các nguồn lợi thủy sản được quản lý tốt hoặc tốt hơn – thuộc các nhóm A + B1 + B2 (tức là có từ 6 hoặc trên tất cả 5 tiêu chí FishSource). So với tỷ lệ 57,4% năm ngoái thì đây là một bước tiến rất lớn.

– 2,2% tổng sản lượng khai thác các nguồn lợi thủy sản sử dụng làm bột cá và dầu cá trong phân tích này đến từ các nguồn lợi thủy sản nằm trong điều kiện rất tốt (loại A).

– 17% (1,7 triệu tấn) tổng sản lượng đánh bắt phục vụ sản xuất bột cá và dầu cá từ các nghề cá quản lý kém (loại C), giảm đáng kể so với 42,6% trong năm 2016.

– Trong số 20 nguồn lợi thủy sản được phân tích trong bản báo cáo tổng quan này, có 10 nguồn lợi đã tham gia chương trình của Hội đồng Quản lý Biển, 19 nguồn lợi thủy sản được cấp giấy chứng nhận Nguồn gốc Trách nhiệm (Responsible Sourcing) của Tổ chức Bột cá và Dầu cá Quốc tế IFFO và 3 nguồn lợi thủy sản tham gia các dự án cải thiện nghề cá (FIPs) đang tiến triển tốt. Theo các số liệu ước tính sẵn có, hơn 70% sản lượng được đề cập trong báo cáo tổng quan này là từ các nghề cá được chứng nhận MSC hoặc đánh giá đầy đủ (25%), hoặc trong một FIP đang có tiến bộ tốt (44%).

– Đã có những dự án cải thiện nghề cá quan trọng được đưa ra trong năm qua đối với các nguồn lợi thủy sản sử dụng làm bột cá và dầu cá, đặc biệt đối với cá cơm Peru (nguồn lợi ở trung tâm phía Bắc) và các loài cá biển nhỏ  Mauritania.

– Tình hình ở châu Á vẫn còn chưa có dấu hiệu tích cực. Một lượng lớn bột cá ở khu vực Châu Á xuất phát từ các nghề đánh bắt cá hỗn hợp sử dụng lưới kéo. Những nghề cá này được ghi chép và quản lý kém. Ngành thủy sản cần đóng vai trò hỗ trợ các dự án cải thiện nghề cá trong khu vực này để đảm bảo tất cả sản lượng bột cá và dầu cá đều có nguồn gốc từ các nghề cá được quản lý bền vững.

Bình luận về bản báo cáo này, ông Blake Lee-Harwood, Giám đốc Chiến lược của Tổ chức đối tác Thủy sản Bền vững, cho biết, báo cáo này cho thấy sự cải thiện thực sự trong quản lý các nguồn lợi thủy sản phục vụ sản xuất bột cá và dầu cá và là một minh chứng rõ ràng rằng ngành bột cá và dầu cá đang có xu hướng rất tích cực hướng tới sự bền vững. Tuy nhiên vẫn còn một thách thức lớn ở châu Á nhưng với sự hỗ trợ của ngành thủy sản và Chính phủ, chúng ta có thể hy vọng sẽ có những cải thiện tương tự.

Trygve Berg Lea, Giám đốc Quản lý Tính bền vững tại Skretting Group, cho biết công ty hướng tới phát triển chuỗi cung ứng có trách nhiệm và liên tục cải tiến. Đối với bột cá và dầu cá, Skretting hoạt động theo hướng đảm bảo nguồn cung đáp ứng các yêu cầu của Quy tắc ứng xử nghề cá có trách nhiệm của FAO.

(Theo Seafoodsource)

Giá heo đồng loạt tăng nóng

Giá heo hơi trên cả nước những ngày qua liên tục tăng, dao động 40.000-41.000 đồng một kg.

Tại huyện Hải Hậu – Nam Định, thương lái đang lùng mua heo tận chuồng với giá gần 4 triệu đồng 100kg, trong khi cách đó một tuần giá chỉ khoảng 2,5 triệu đồng. Bà Lan, chủ hộ chăn nuôi lâu năm tại huyện Hải Hậu cho biết thương lái liên tục gọi điện thu mua và nhờ giới thiệu các trại còn heo tồn, có uy tín.

Ở các địa phương chăn nuôi heo tập trung của miền Bắc như: Hải Dương, Hưng Yên cũng ghi nhận tình trạng xe vận chuyển đến các cửa khẩu (Lạng Sơn) nhộn nhịp.

Tại các tỉnh phía Nam, cơn sốt tăng giá cũng diễn ra không kém. Tại Bến Tre, ông Lê Văn Liêm, xã Cẩm Sơn, huyện Mỏ Cày Nam, cho biết ông mới bán 23 con heo cho thương lái với giá 4 triệu đồng 100kg. Với giá này, người chăn nuôi tạm thời thoát cảnh lỗ triền miên và có lãi. Đây cũng là mức giá cao nhất từ cuối tháng 11/2016 đến nay, thậm chí, chỉ trong một ngày giá heo hơi khu vực Bến Tre tăng thêm trung bình 3.000 đồng một kg như ngày 17/7.

 

Giá heo đồng loạt tăng mạnh tuần qua trên nhiều địa phương.

Đồng Nai – “thủ phủ” của ngành chăn nuôi heo cũng ghi nhận giá tăng nóng mấy tuần gần đây. Theo ghi nhận, từ ngày 14/7 đến nay giá heo hơi loại một (90-110kg mỗi con) xuất bán tăng liên tục, dao động từ 32.000 đến 36.000 đồng một kg, tăng 9.000-15.000 đồng mỗi kg so với trước đó. Đến sáng 18/7 có nhiều nơi nông dân đã xuất chuồng được trên 45.000 đồng một kg. Đây là lần tăng giá nhanh và cao nhất trong bảy tháng trở lại, dù vẫn thấp hơn khoảng 4.000 đồng một kg so với một số tỉnh thành phía Bắc.

Heo tăng giá cũng giúp cho rất nhiều người “sống lại”, từ các hộ nhỏ lẻ đến trang trại. Các nhà máy thức ăn, doanh nghiệp kinh doanh nguyên liệu cũng thở phào với số hàng tồn kho đang chất cao như núi. Đại lý thức ăn, thuốc thú y có cơ hội thu hồi nợ, tiếp tục bán hàng. Ngay cả người làm dịch vụ vận chuyển thức ăn, vận chuyển heo hơi cũng có thêm việc làm, thêm thu nhập khi thị trường thịt heo sôi động trở lại.

Do giá tăng quá nóng, vài ngày gần đây xuất hiện thông tin giá heo tăng ảo và do một số doanh nghiệp, trang trại lớn làm giá. Tuy nhiên, theo phân tích của giới chuyên môn, nếu nhìn tín hiệu giá tăng liên tục vài tuần gần đây, có thể khẳng định thị trường rất khó tăng ảo nếu như không có biến động cung, cầu. Heo tăng giá xuất phát từ nguyên nhân trong quãng thời gian hai tuần cuối tháng 6 và đầu tháng 7, Trung Quốc đột ngột gia tăng nhập khẩu. Khoảng nửa tháng giai đoạn này, mỗi ngày có ít nhất hơn 10.000 con heo được thương lái gom từ khắp nơi xuất sang Trung Quốc, làm giảm đi nhanh chóng đàn heo quá cỡ còn tồn đọng ở các trang trại. Mặc dù, giá heo hơi giao dịch tại cửa khẩu chỉ quanh ngưỡng 35.000-38.000 đồng một kg, nhưng bấy nhiêu đó cộng với việc xuất được khối lượng lớn cũng giúp thị trường nội địa xảy ra biến động nguồn cung, gây tăng giá.

“Đàn heo quá cỡ được giải quyết, cộng với nhu cầu nội địa vẫn ở mức cao nên nguồn cung trong nước giảm nhanh, giá tăng”, đại diện một doanh nghiệp chăn nuôi nước ngoài nói, đồng thời phân tích bên cạnh tín hiệu tăng giá, xét đến yếu tố tổng đàn, cũng có thể thấy hiện đàn heo đã ổn định, không còn tồn đọng quá nhiều như các tháng trước nên khi có lực cầu lớn từ Trung Quốc, giá tăng là khó tránh.

Ngoài nguyên nhân Trung Quốc tăng nhập khẩu, từ tháng 4/2017 trở đi, do nguồn cung dư thừa, giá heo giảm xuống đáy nên người dân cả nước đổ xô ăn thịt heo với nhiều cuộc giải cứu heo từ thành phố đến nông thôn. Do đó, ngay từ tháng 7 đã xuất hiện cung cầu vênh nhau khiến giá tăng.

Ông Nguyễn Xuân Dương, Phó cục trưởng Cục Chăn nuôi (Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn) cũng nhìn nhận, heo tăng giá trở lại là kết quả của nỗ lực “giải cứu” thịt heo từ sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, các Bộ, ngành, người dân trong suốt thời gian qua, cộng thêm nhu cầu nhập khẩu của các nước đang tăng, đặc biệt là Trung Quốc.

Trưởng phòng thương mại Sở Công Thương Đồng Nai – ông Lục Văn Thủy, cũng khẳng định lượng heo tồn ở địa phương này hầu như đã hết, nên lượng heo thịt hiện ngang bằng với nhu cầu của thị trường.

Ông Lê Xuân Huy, Phó tổng giám đốc Công ty chăn nuôi CP Việt Nam cũng khẳng định việc “làm giá” của các doanh nghiệp là rất khó xảy ra, bởi đa phần lượng heo được  nuôi tại Việt Nam là do các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ quản lý. Ngay như với CP Việt Nam, dù được xem là một trong những doanh nghiệp lớn nhất của ngành chăn nuôi heo, nhưng tổng số lượng heo nuôi hiện nay chỉ chiếm khoảng 5% thì vai trò của việc điều tiết giá là điều không tưởng.

“Là công ty đại chúng nên chúng tôi công khai giá bán ở mọi thời điểm. Chính  vì vậy, có nhiều nơi hay nhìn vào giá niêm yết heo hơi của công ty để đưa ra nhận định chung về mặt bằng giá cả”, ông Huy nói.

Nguồn: http://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/hang-hoa/gia-heo-dong-loat-tang-nong-3615070.html

Chào bán bột cá Ngừ 55% đạm nguyên chất giá cạnh tranh

Cơ sở sản xuất Bột cá Nguyễn Thị Sậu cung cấp Bột cá Ngừ sấy khô với độ đạm 55%,  độ ẩm 10% với sản, giá cạnh tranh, có mùi thơm đặc trưng. Bột cá Ngừ được sản xuất từ 100% nguyên liệu cá Ngừ không pha tạp chất, không Vi khuẩn gây bệnh (Salmonella), không Vi khuẩn E Coli, không nấm mốc (mycotoxin).

Chúng tôi giao hàng tận nơi khu vực ĐBSCL, Tp.Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai… Quý khách ai có nhu cầu mua xin liên hệ số 0966 245 245 (Sáng) hoặc 0989 22 30 32 (Liên)

Một số hình ảnh bột cá:

Bột cá biển, bột cá Ngừ sấy khô 55% độ đạm, 10% độ ẩm

Bột cá biển, bột cá Ngừ sấy khô 55% độ đạm, 10% độ ẩm

Bình Định chọn cá ngừ đại dương là sản phẩm nông nghiệp chủ lực

ca-ngu636166249296524923Mới đây, UBND tỉnh Bình Định đã quyết định chọn cá ngừ đại dương là sản phẩm nông nghiệp chủ lực để tiến tới thành lập hợp tác xã gắn với chuỗi giá trị sản phẩm theo cụm liên kết ngành.

Cùng với đó, UBND tỉnh Bình Định đã đăng ký với Bộ Kế hoạch và Đầu tư mặt hàng nông sản chủ lực trên nhằm được hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng cho chuỗi sản xuất cá ngừ đại dương. Theo quyết định của UBND Bình Định, 7 xã ở huyện Hoài Nhơn sẽ tham gia chương trình này, với quy mô 1.000 chiếc tàu công suất lớn chuyên khai thác cá ngừ đại dương bằng hình thức câu tay, sản lượng khoảng 8.000 – 9.000 tấn/năm, giá trị sản phẩm 722,5 tỷ đồng/năm, tiêu chuẩn chất lượng đạt an toàn vệ sinh thực phẩm tuyệt đối.

Được biết, Bình Định hiện có gần 8.000 tàu cá (trong đó, 3.850 tàu khai thác xa bờ, là một trong những địa phương có số lượng tàu khai thác xa bờ lớn nhất Việt Nam) với hơn 37.000 lao động nên sản lượng khai thác của ngư dân đạt khoảng 200.000 tấn mỗi năm. Ngư dân Bình Định khai thác chủ yếu tại các ngư trường truyền thống như quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa…  Đội tàu cá 25 chiếc tham gia mô hình đánh bắt theo chuỗi cũng đã triển khai thực hiện được hơn 2 năm và cá ngừ Bình Định cũng đã tham gia đấu giá thành công tại Nhật Bản với giá cao gấp 3 lần so với giá bán trong nước.

Tuy nhiên, thời gian qua, ngư dân Bình Định cũng gặp không ít khó khăn. Công nghệ khai thác và bảo quản sau thu hoạch trên tàu chưa tốt, tình trạng tàu cá bị nước ngoài bắt giữ, xử phạt vì vi phạm lãnh hải vẫn xảy ra.

Để khắc phục khó khăn, hiện nay các ngư dân Bình Định đã đăng ký thành lập các tổ, đội tàu đoàn kết khai thác thuỷ sản trên biển. Các tổ, đội này được thành lập theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản và 4 cùng (cùng: nghề, ngư trường, nơi cư trú, gia đình hoặc là bạn bè của chủ tàu). Mỗi tổ, đội tàu đánh bắt cá xa bờ từ 3-5 tàu. Hiện tại, Bình Định có 451 tổ đoàn kết với hơn 1.829 tàu tham gia, giúp ngư dân gắn kết hơn trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, nâng cao hiệu quả khai thác…

Cùng với đó, Hội Nông dân tỉnh Bình Định cũng cùng các ngân hàng tín chấp cho ngư dân vay vốn mua sắm ngư lưới cụ, cải hoán đóng mới tàu thuyền khoảng 200 tỷ đồng với gần 6.000 hộ vay. Tiến hành cho vay từ Quỹ Hỗ trợ nông dân với 5 dự án (1,15 tỷ đồng cho 65 hộ vay).

(Theo TCTS)

FAO dự báo sản lượng và giá thủy sản thế giới tới năm 2025

seafoodTheo Báo cáo năm 2016 của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO), dự báo đến năm 2021, sản lượng nuôi trồng thủy sản sẽ tăng vượt sản lượng khai thác. Giá thủy sản trong vài năm tới sẽ giảm vì kinh tế tăng trưởng chậm, tuy nhiên sẽ phục hồi vào 5 năm cuối của giai đoạn 2016 – 2025 vì dự đoán cầu sẽ vượt cung.

Sản lượng

Theo dự báo của FAO, đến năm 2015, tổng sản lượng thủy sản thế giới đạt 196 triệu tấn, tăng 17% so với giai đoạn 2013 – 2015, nhưng mức tăng trưởng chậm hơn so với thập kỷ trước (1,5% so với 2,5%). Về khối lượng tăng 29 triệu tấn so với mức trung bình năm 2013 – 2015.

Sản lượng tăng chủ yếu từ các nước đang phát triển, chiếm 85% trong năm 2015, tăng từ mức 83%. Thị trường mở rộng nhiều hơn ở châu Á, tỷ trọng trọng tổng sản lượng tăng từ 70% lên 73%. Trong số 29 triệu tấn sản lượng tăng lên, sẽ có 25 triệu tấn sản xuất ở châu Á, 1,8 triệu tấn ở Mỹ Latinh và Caribe, 1,6 triệu tấn ở châu Phi, 0,7 triệu tấn ở châu Âu và số còn lại ở châu Đại Dương và Bắc Mỹ. Khoảng 91% tổng sản lượng, khoảng 178 triệu tấn sẽ dùng cho tiêu thụ thực phẩm.

Nhu cầu tăng sẽ được bù đắp chủ yếu bằng tăng trưởng nguồn cung thủy sản nuôi trồng, dự kiến đạt 102 triệu tấn vào năm 2025, tăng 39% so với giai đoạn trước. Nuôi trồng thủy sản vẫn là một trong những lĩnh vực tăng trưởng nhanh nhất để sản xuất thức ăn chăn nuôi, mặc dù mức tăng trưởng hàng năm ước giảm từ 5,4% trong thập kỷ trước xuống 3% trong giai đoạn này. Tăng trưởng chậm chủ yếu là do nguồn cung giảm và chất lượng nước không tốt; sự cạnh tranh sử dụng các khu vực sản xuất tối ưu; nguồn cung con giống và thức ăn đảm bảo chất lượng và số lượng; không đủ đầu tư vào cơ sở hạ tầng ở các khu vực có nguồn tài nguyên thiên nhiên để sản xuất thủy sản nuôi; khó khăn về vốn; và thách thức trong quản trị và khung pháp lý. Ngoài ra, nếu giảm nhẹ, nhưng giá bột cá, dầu cá và các thức ăn khác vẫn cao sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến sản xuất (vì chỉ có khoảng 30% các loài không cần thức ăn đặc). Các nước đang phát triển vẫn giữ vai trò quan trong trong nuôi trồng thủy sản, chiếm 95% tổng sản lượng. Ước tính những nước này chiếm 96% phần sản lượng tăng lên trong giai đoạn này.

Tuy nhiên, sản lượng nuôi trồng thủy sản có thể tiếp tục tăng ở các nước phát triển (tăng 26% trong thập kỷ tới) ở tất cả các lục địa, với mức độ tăng khác nhau ở từng khu vực, từng nước và từng loài. Các nước châu Á vẫn là những nước sản xuất chính, chiếm 89% tổng sản lượng trong năm 2025, riêng Trung Quốc chiếm 62% tổng sản lượng của thế giới. Sản lượng cũng tăng ở Mỹ Latinh, nhất là Brazil (dự kiến tăng 104%) do có chiến dịch đầu tư lớn cho ngành này. Sản lượng ở châu Phi dự kiến tăng 35% đạt 2,3 triệu tấn, một phần nhờ tăng công suất trong những năm gần đây, một phần nhờ nhu cầu trong nước tăng khi kinh tế tăng trưởng và nhờ chính sách khuyến khích nuôi trồng thủy sản ở trong nước.

Các loài nuôi nước ngọt như cá chép, cá da trơn (bao gồm cá tra) và cá rô phi sẽ chiếm phần lớn mức tăng sản lượng nuôi trồng, chiếm khoảng 60% tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản vào năm 2025. Sản lượng các loài có giá trị cao hơn như tôm, cá hồi salmon và trout dự kiến tiếp tục tăng trong thập kỷ tới.

Tỷ trọng của thủy sản nuôi trồng trong tổng sản lượng thủy sản sẽ tăng từ 44% trong giai đoạn 2013 – 2015 đến 52% trong năm 2025 và sẽ vượt tỷ trọng của thủy sản khai thác từ năm 2021. Sự phát triển này mở ra một kỷ nguyên mới cho thấy nuôi trồng thuỷ sản ngày càng chi phối sự thay đổi của ngành thủy sản. Tuy nhiên, ngành khai thác vẫn giữ vị trí quan trọng đối với một số loài và có ý nghĩa đối với an ninh lương thực quốc tế và nội địa. Sản lượng thủy sản khai thác dự kiến tăng 1% đạt 94 triệu tấn vào năm 2025. Mức tăng nhẹ này có nhiều nguyên nhân: như phụ thuộc vào tiến trình đạt mục tiêu SDH, bao gồm: phục hồi trữ lượng một số loài sau khi một số nước cải thiện cơ chế quản lý, một số nước không bị áp hạn ngạch sản lượng vẫn tăng khai thác; giá xăng dầu giảm, và tăng hiệu quả tận dụng sản lượng qua việc giảm lãng phí cá vụn, chất thải và thất thoát theo quy định và do tác động từ giá thủy sản tăng (trong đó có giá bột cá và dầu cá). Ở giai đoạn đầu của thập kỷ tới, sản lượng khai thác sẽ không tăng nhiều do ảnh hưởng của thời tiết El Nino đối với khu vực Nam Mỹ. Trong 10 năm tới, hiện tượng thời tiết này sẽ làm giảm 2% sản lượng khai thác của thế giới, tác động nhiều hơn đối với sản lượng cá cơm của Peru và Chile.

Đến năm 2025, tỷ lệ sản lượng thủy sản khai thác được để sản xuất bột cá sẽ khoảng 16%, thấp hơn 1% so với giai đoạn trước. Nguyên nhân do nhu cầu thủy sản làm thực phẩm tăng đối với những loài trước kia dùng làm bột cá, dầu cá; nguồn nguyên liệu khan hiếm hơn và ngày càng sử dụng nhiều phụ phẩm để sản xuất bột cá. Tỷ lệ sản lượng khai thác dùng sản xuất bột cá và dầu cá sẽ giảm nhẹ trong những năm đầu khi có hiện tượng thời tiết El Nino do sản lượng đánh bắt cá cơm giảm. Tới năm 2025, sản lượng bột cá và dầu cá có thể đạt 5,1 triệu tấn và 1,0 triệu tấn. Sản lượng bột cá sẽ tăng 15% so với mức trung bình của những năm 2013 – 15, nhưng khoảng 96% mức tăng được sản xuất từ cá vụn, phụ phẩm từ cá chế biến. Vì ngày càng nhiều sản lượng cá để dành cho việc chế biến phile và các dạng chế biến khác nên tỷ lệ phụ phẩm như đầu, đuôi, xương và nội tạng sau chế biến sẽ tăng lên, được đưa vào để sản xuất bột cá và dầu cá. Bột cá sản xuất từ phụ phẩm chế biến cá sẽ chiếm 38% sản lượng bột cá thế giới trong năm 2025, so với 29% trong giai đoạn 2013 – 15. Sử dụng phụ phẩm từ chế biến cá có thể ảnh hưởng đến thành phần và chất lượng bột cá và dầu cá: ít đạm hơn, nhiều khoáng chất và tăng axit amino (như glycine, proline, hydroxyproline) hơn so với sản phẩm chế biến từ cá nguyên con. Đây có thể là nguyên nhân làm giảm tiêu thụ bột cá và dầu cá trong thức ăn nuôi thủy sản và gia súc. Tuy nhiên, sự thay đổi này không đáng kể.

Giá

Năm 2015, giá trung bình thủy sản thấp hơn so với năm 2014. Dự kiến trong thập kỷ tới, các yếu tố chính tác động đến giá thủy sản thế giới sẽ là: thu nhập, mức tăng dân số và giá thịt, xét về khía cạnh nhu cầu; sản lượng khai thác tăng ít, giá thức ăn nuôi thủy sản, điện và xăng, dầu…xét về khía cạnh cung. Về danh nghĩa, giá thủy sản dự kiến tiếp tục giảm trong giai đoạn đầu do tăng trường kinh tế chậm hơn, nhu cầu giảm ở một số thị trường chính và chi phí đầu vào giảm. Tuy nhiên, trong 5 năm cuối của giai đoạn này, giá sẽ ổn định và tăng nhẹ, sau đó sẽ giữ ở mức cao vào cuối giai đoạn. Tới năm 2025, giá sản xuất trung bình dự kiến tăng nhự so với giai đoạn 2013 – 15 vì nhu cầu sẽ vượt cung. Tuy nhiên giá trung bình thủy sản tiêu thụ làm thực phẩm, giá dầu cá và bột cá sẽ giảm chút so với mức đỉnh 2014 nhưng vẫn khá cao.

Thủy sản khai thác vẫn bị hạn chế hạn ngạch, trong khi nhu cầu một số loài vẫn ổn định, do vậy dự kiến tới năm 2015, giá trung bình thủy sản khai thác (bao gồm cá làm bột cá, dầu cá) sẽ tăng mạnh hơn giá thủy sản nuôi (tăng 7% so với thủy sản nuôi là 2%) so với giai đoạn 2013 – 15 và mức tăng trung bình hàng năm tương ứng là 1% và 0,8%. Tuy nhiên nhìn chung giá thủy sản khai thác vẫn thấp hơn thủy sản nuôi, có thể do tỷ lệ cá khai thác giá trị thấp cao hơn. Giá thủy sản nuôi tăng ít hơn một phần do giá thức giảm sau khi tăng kỷ lục vào những năm 2011 – 12 và do hệ số chuyển đổi thức ăn cao hơn và năng suất cao hơn (dù vẫn thấp hơn so với những thập kỷ trước nữa). Giá thực tế thủy sản khai thác và thủy sản nuôi dự kiến đều giảm 13% và 17% trong giai đoạn này.

Giá bột cá đã tăng mạnh từ năm 2006 đến 2013 đạt tới 1.747 USD/tấn vào năm 2013. Sau đó, dù đã giảm nhẹ nhưng giá vẫn cao. Đến năm 2025, giá trung bình bột cá dự kiến giảm 14% về danh nghĩa và giá thực tế giảm 30%. Riêng những năm có hiện tương El Nino sản lượng khai thác ở Nam Mỹ giảm, chủ yếu là cá cơm, sẽ làm giảm sản lượng bột cá và dầu cá. Từ mức cao đỉnh điểm, giá dầu cá dự kiến giảm trong giai đoạn 2016 – 2025, nhưng vẫn cao hơn so với giá bột cá. Giá danh nghĩa trung bình dầu cá dự kiến giảm 3% và thực tế sẽ giảm 21%.

Giá tiêu thụ thủy sản cũng sẽ giảm trong giai đoạn tới, với mức giảm danh nghĩa 5% và giảm thực tế 25%. Các yếu tố chính tác động giảm là giá cạnh tranh của các sản phẩm thay thế, nhất là thịt gà, nhu cầu của các thị trường giảm do tăng trưởng kinh tế chậm, giá sản xuất và bán các sản phẩm nuôi giảm vì chi phí vận chuyển và thức ăn hạ.

Nhờ thuế NK ở mức tối thiểu hoặc mức thấp ở những nước phát triển nên thương mại thủy sản quốc tế vẫn khá tự do và sự biến động giá có thể tác động từ thị trường này sang thị trường khác. Tuy nhiên, ở nhiều nước đang phát triển, thuế NK và giấy phép NK vẫn là vấn đề. Biến động giá trên thị trường quốc tế sẽ có hiệu ứng lan tỏa đối với cả các loài không giao dịch thương mại nhiều.

Đối với từng loài, biến động giá có thể rõ rệt hơn do sự thay đổi nguồn cung trước những điều chỉnh đáng kể về hạn ngạch khai thác và dịch bệnh đối với thủy sản nuôi, cũng như biến động giá thức ăn nuôi.

Nguồn: Vasep

Chào bán bột cá biển nguyên chất (Cá Ngừ) 55% đạm

Cơ sở sản xuất bột cá Nguyễn Thị Sậu chào bán bột cá biển nguyên chất (cá Ngừ) 55% đạm, không pha tạp chất, có mùi thơm đặc trưng của cá ngừ.

Hãy gọi cho chúng tôi theo số: 0949.333.288 để được tư vấn và biết giá cả. Trân thành cảm ơn quý khách hàng.

Hình ảnh bột cá Ngừ:

Bột cá biển, bột cá Ngừ sấy khô 55% độ đạm, 10% độ ẩm

Bột cá biển, bột cá Ngừ sấy khô 55% độ đạm, 10% độ ẩm

Phiếu kết quả thử nghiệm bột cá Ngừ:

Phiếu kết quả thử nghiệm bột cá biển (Cá Ngừ) 55 đạm.

Phiếu kết quả thử nghiệm bột cá biển (Cá Ngừ) 55 đạm.

Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia lĩnh vực thức ăn chăn nuôi

Nhằm kiểm soát chặt chẽ chất lượng thức ăn chăn nuôi, đặc biệt về giới hạn cho phép các yếu tố tác động, Bộ NN&PTNT đã ban hành quy chuẩn mới, áp dụng thực hiện từ ngày 26/1/2017.

Tại Thông tư số 27/2016/TT-BNNPTNT, Bộ NN&PTNT đã quy định giới hạn tối đa cho phép hàm lượng độc tố nấm mốc, kim loại nặng và vi sinh vật trong thức ăn hỗn hợp gia súc, gia cầm. Thông tư này có hiệu lực được giữ nguyên giá trị hiệu lực công bố trong thời hạn 3 năm kể từ ngày Sở NN&PTNT ban hành thông tư tiếp nhận công bố hợp quy.

quy định giới hạn cho phép trong thức ăn chăn nuôi - chăn nuôi

Quy chuẩn mới quy định giới hạn tối đa cho phép các yếu tố tác động trong thức ăn hỗn hợp gia súc, gia cầm Ảnh: Hải Linh

Theo đó, quy định giới hạn các yếu tố trên trong thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh và thức ăn đậm đặc cho lợn, gà, chim cút, ngan, vịt; thức ăn tinh hỗn hợp cho bê và bò thịt. Áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có hoạt động liên quan đến kinh doanh thức ăn chăn nuôi cho gia súc, gia cầm tại Việt Nam.

Cụ thể, hàm lượng tối đa cho phép độc tố Aflatoxin tổng số trong thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh và thức ăn đậm đặc cho lợn, gà, chim cút, vịt, ngan; thức ăn tinh hỗn hợp cho bê và bò thịt được quy định như sau:

hàm lượng aflatoxin cho phép trong thức ăn chăn nuôi - chăn nuôi

Lưu ý: Lợn con: từ 1 đến 45 ngày tuổi hoặc từ sơ sinh đến 15kg.

Gà, chim cút, vịt và ngan con: Từ 1 đến 28 ngày tuổi

Bê: Dưới 6 tháng tuổi.

Về yếu tố kim loại nặng: Được quy định riêng với từng loại. Với thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh và thức ăn tinh hỗn hợp cho bê, bò thịt, được quy định như sau:

kim loại nặng trong thức ăn chăn nuôi - chăn nuôi

 

Đối với thức ăn đậm đặc: Hàm lượng một số nguyên tố kim loại nặng tối đa cho phép trong thức ăn đậm đặc cho lợn, gà, chim cút, vịt và ngan được tính bằng công thức sau: A = (B x 100)/C, trong đó: A là hàm lượng một nguyên tố kim loại nặng tối đa cho phép trong thức ăn đậm đặc (mg/kg hoặc ppm); B là hàm lượng nguyên tố kim loại nặng tối đa cho phép trong thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh tương ứng quy định trong Quy chuẩn kỹ thuật này (mg/kg hoặc ppm); C là tỷ lệ tối đa thức ăn đậm đặc dùng để phối trộn (%) theo hướng dẫn sử dụng được công bố hoặc ghi trên nhãn.

Với vi sinh vật, tổng số vi sinh vật tối đa cho phép trong thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh và thức ăn đậm đặc cho lợn, gà, chim cút, vịt, ngan; thức ăn tinh hỗn hợp cho bê và bò thịt được quy định như sau:

tổng vi sinh vật cho phép trong thức ăn - chăn nuôi

Theo quy định tại Thông tư này, thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh và thức ăn đậm đặc cho lợn, gà, chim cút, vịt, ngan; thức ăn tinh hỗn hợp cho bê và bò thịt của các tổ chức, cá nhân quy định tại mục 1.2 của Quy chuẩn phải đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật quy định tại Quy chuẩn này.

Cùng đó, trước khi lưu thông trên thị trường, tổ chức, cá nhân kinh doanh thức ăn chăn nuôi quy định tại mục 1.2 của Quy chuẩn này phải làm thủ tục công bố hợp quy tại Sở NN&PTNT địa phương nơi tổ chức, cá nhân đăng ký hoạt động sản xuất, kinh doanh theo quy định.

Phương thức đánh giá hợp quy: Đánh giá theo phương thức 5 hoặc phương thức 7 quy định tại Thông tư số 55/2012/TT-BNNPTNT ngày 31/10/2012 hướng dẫn thủ tục chỉ định tổ chức chứng nhận hợp quy và công bố hợp quy thuộc phạm vi quản lý của Bộ NN&PTNT.

Mỗi sản phẩm công bố hợp quy phải được lấy mẫu thử nghiệm để đánh giá sự phù hợp đối với tất cả các chỉ tiêu quy định tại Quy chuẩn kỹ thuật này.

Trong thời gian hiệu lực của kết luận về sự phù hợp, mỗi sản phẩm công bố hợp quy phải được lấy mẫu để đánh giá giám sát với tần suất không quá 12 tháng/lần và thử nghiệm tất cả các chỉ tiêu quy định tại Quy chuẩn kỹ thuật này với tần suất ít nhất 3 năm/lần/chỉ tiêu.

Nguồn: Người chăn nuôi

%d bloggers like this: