Bột Cá Biển

Cơ sở sản xuất bột cá Nguyễn Thị Sậu cung cấp bột cá biển (Cá Ngừ) 55 đạm, không pha tạp chất. Tel: 0966 245 345

Tag Archives: cá ngừ

Các công ty cá ngừ Australia bị ảnh hưởng từ TPP

Việc ký kết Hiệp định thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP) được ký kết vào ngày 8/3/2018 có thể giúp một số nhà sản xuất tiếp cận tốt hơn với các thị trường thương mại nước ngoài nhưng chi phí cho ngành cá ngừ cảng Port Lincoln sẽ lên tới hàng triệu đô la một năm.

Người nuôi, các nhà sản xuất, các nhà cung cấp dịch vụ, các DN nhỏ và tất cả các nhà XK đều mong muốn được hưởng lợi, tuy nhiên, các công ty trong ngành công nghiệp cá ngừ lại cho rằng thỏa thuận này sẽ gây bất lợi lớn.

Giám đốc điều hành Hiệp hội Công nghiệp Cá ngừ vây xanh Australia, Brian Jeffriess, cho biết thỏa thuận thương mại mới này sẽ làm ngành công nghiệp cá ngừ cảng Port Lincoln chi khoảng 5 triệu USD mỗi năm, tăng lên 8 triệu USD mỗi năm sau năm 2020.

Ông Jeffriess cho biết thỏa thuận dỡ bỏ lợi thế về thuế quan 3,5% đối với ngành cá ngừ Australia theo Hiệp định Thương mại Tự do Australia / Nhật Bản (JAEPA).

Để có được lợi thế đó, ngành công nghiệp này đã phải hy sinh một số thứ khác vào thời điểm JAEPA được đàm phán.

Ông cho biết tổn thất là thực tế mà các hiệp định thương mại mang lại và việc phát triển ngành công nghiệp cá ngừ tại một khu vực như Eyre Peninsula.

Jeffriess cho biết, trong trường hợp TPP, để công bằng, quyết định cuối cùng của Nhật Bản và Chính phủ Australia phải hy sinh điều gì đó để duy trì vị thế của ngành công nghiệp cá ngừ.

Jeffriess cho biết mối quan tâm của ngành công nghiệp là quyết định này là mới nhất trong 8 quyết định chính sách quan trọng đối với ngành chế biến cá ngừ do Chính phủ liên bang và tiểu bang thực hiện từ năm 2006 và trong mọi trường hợp, ngành công nghiệp cá ngừ cảng Port Lincoln đều bị tổn thất.

Ông cho biết lời giải thích của Chính phủ tiểu bang và liên bang là cho tình hình xấu đi như thế nào, ngành cá ngừ vẫn sẽ hồi phục.

Ông Jeffriess cho biết các ví dụ về khả năng phục hồi ngành công nghiệp cá ngừ là cắt giảm hạn ngạch cá ngừ và thu hoạch vào năm 1990, cơn bão năm 1997 phá hủy 70% trang trại cá ngừ, cắt giảm hạn ngạch trong năm 2009-2011 và thời gian dài giá rất thấp từ năm 2013 đến năm 2017.

Ông cho biết, mỗi khi thảm hoạ xảy ra, ngành công nghiệp này đã tự hồi phục mà không có chính sách hỗ trợ của Chính phủ hoặc hỗ trợ tài chính.

Do vậy, hệ quả của TPP cũng tương tự đối với ngành cá ngừ Australia.

(Theo http://www.portlincolntimes.com.au)

Advertisements

Ngành cá ngừ Việt Nam: Hướng đến tăng trưởng bền vững

Chiếm 6,3% trong cơ cấu sản phẩm thủy sản xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2011, xuất khẩu cá ngừ Việt Nam đã có sự tăng trưởng đáng ghi nhận. Tuy nhiên, để thâm nhập sâu và rộng hơn trên thị trường thế giới, cá ngừ Việt Nam vẫn còn những khó khăn cần phải vượt qua.

Những bước tiến khả quan

Gần đây, Việt Nam được xem là một trong những nước mới nổi về xuất khẩu cá ngừ. Dù nền kinh tế thế giới gặp nhiều khó khăn trong năm 2011, nhưng giá trị xuất khẩu cá ngừ của Việt Nam vẫn đạt 379,364 triệu USD, tăng 29,4% so với năm ngoái. Các loài cá ngừ xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam gồm cá ngừ vây vàng, cá ngừ mắt to, cá ngừ vây dài, cá ngừ vây xanh miền Nam và cá ngừ sọc dưa..

Theo VASEP, trong năm 2011, cá ngừ Việt Nam đã xâm nhập và mở rộng ra nhiều thị trường, nâng tổng số thị trường nhập khẩu cá ngừ của Việt Nam lên con số 87. Ba thị trường chính của xuất khẩu cá ngừ Việt Nam là Mỹ, EU và Nhật Bản. Trong đó, Mỹ vẫn là thị trường chính với giá trị xuất khẩu đạt 171,37 triệu USD, tăng 31,8% so với cùng kỳ năm 2010, đứng thứ hai là EU.

Sản phẩm chính năm 2011 (GT)

Nhuyễn thể

10%

Giáp xác khác

1,8%

Cá ngừ

6,3%

Cá tra, basa

30%

Tôm

39,8%

Cá khác

12,1%

Ngành cá ngừ Việt Nam cũng đã có những bước tiến mới đáng ghi nhận trong một vài năm qua. Sự ra đời của Hiệp hội Cá ngừ Việt Nam với 36 thành viên vào năm 2010 không chỉ là nơi tập hợp, đoàn kết hội viên, phổ biến các tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới nhằm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, tiết kiệm chi phí sản xuất mà còn là yếu tố quan trọng để tăng cường khả năng cạnh tranh của sản phẩm cá ngừ Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Trở thành thành viên đầy đủ của WCPFC

Sản lượng khai thác cá ngừ đại dương ở các tỉnh quan trọng như Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Định đã có sự gia tăng đáng kể. Cụ thể, từ đầu năm 2011 đến nay, Phú Yên đã khai thác hơn 5.200 tấn cá ngừ đại dương. Khoảng 24 – 30% sản lượng được xuất khẩu sang các nước Âu, Mỹ và Đông Bắc Á, mang về kim ngạch trên 10 triệu USD/năm. Còn tại Bình Định, từ ngày 23 – 30/1/2012, đã có 45 tàu câu cá ngừ đại dương của ngư dân cập bến, sản lượng đạt 70 tấn. Bình quân mỗi chiếc đánh bắt được 1,4 tấn, lãi từ 40 – 80 triệu đồng/tàu…

Tuy nhiên, cá ngừ đại dương là đối tượng chịu sự chi phối, điều chỉnh của Hiệp định về đàn cá di cư quốc tế, nằm trong Công ước về Luật Biển quốc tế. Khi cá di cư đến vùng biển Việt Nam, việc đánh bắt sẽ chịu sự điều chỉnh của Ủy ban Nghề cá Trung và Tây Thái Bình Dương (WCPFC). Hiện, tất cả các vùng biển khai thác cá ngừ đã được các tổ chức quốc tế quản lý chặt chẽ, trong khi nước ta chỉ mới là thành viên không chính thức nhưng có hợp tác của WCPFC. Việt Nam chỉ có thể trao đổi thông tin, tham dự các cuộc họp của WCPFC, yêu cầu họ cung cấp thông tin nghề cá nhưng không được quyền đưa tàu ra vùng biển quốc tế đánh bắt hải sản. Do vậy, ngư dân và các doanh nghiệp Việt Nam đã, đang và sẽ vấp phải rào cản về đánh bắt và xuất khẩu sản phẩm đến một số thị trường quốc tế.

Vì vậy, việc sớm trở thành thành viên đầy đủ của WCPFC, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển thương hiệu cá ngừ đại dương của các tỉnh là điều rất cần thiết trong thời gian sắp tới.

Rào cản thủ tục

Do kỹ thuật bảo quản sau khai thác phần lớn còn thô sơ nên đa phần các nguồn nguyên liệu cá ngừ đạt tiêu chuẩn không đủ để đáp ứng cho nhu cầu chế biến của doanh nghiệp. Vì vậy, buộc các doanh nghiệp phải nhập khẩu nguyên liệu để giảm áp lực về nguồn cung trong nước. Tuy nhiên, thủ tục nhập khẩu nguyên liệu quá phức tạp và rắc rối. Các doanh nghiệp phải hoàn tất nhiều thủ tục và giấy tờ để gửi tới các cơ quan chức năng.

Tăng trưởng xuất khẩu thủy sản năm 2011

Tôm

13,7%

Cá tra

26,5%

Cá ngừ

29,4%

Cá khác

20,9%

Nhuyễn thể

23,2%

Giáp xác khác

-1,9%

Trái lại, hiện nay một số nước xuất khẩu cá ngừ lớn trong khu vực Đông Nam Á như Thái Lan và Philippines lại đang được Chính phủ của họ tạo nhiều điều kiện thuận lợi trong việc nhập khẩu nguồn nguyên liệu nhằm giảm sức ép cho nguồn nguyên liệu nội địa. Điều này đã làm cho nhiều nhà cung cấp chuyển sang hợp tác với các nhà nhập khẩu Thái Lan và Philippines. Do đó, nếu ngành cá ngừ Việt Nam muốn đẩy mạnh xuất khẩu sang các thị trường trên thế giới thì việc tạo điều kiện cho các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu cá ngừ Việt Nam là điều cần thiết nhất hiện nay.

WCPFC là tổ chức quản lý nghề cá khu vực có nhiệm vụ bảo vệ nguồn cá di cư cao ở khu vực Biển Tây và Trung Thái Bình Dương, nơi có 60% nguồn cá ngừ thế giới. Ủy ban có nhiệm vụ xác định sản lượng khai thác tối đa cho phép (TAC), phân bổ quota cho các nước thành viên và quy định về các phương pháp đánh bắt.

Theo VINANET

Chuyển động tích cực bước đầu trong khai thác và xuất khẩu cá ngừ

Tháng đầu năm 2012, giá trị XK cá ngừ của Việt Nam sang các thị trường sụt giảm 12,4% với cùng kỳ năm 2011, đạt 32,548 triệu USD. Các sản phẩm cá ngừ, chủ yếu vẫn là cá ngừ tươi sống, đông lạnh mã HS03, đã được xuất sang 41 thị trường, Giá trị XK dòng sản phẩm này và các sản phẩm cá ngừ chế biến, đóng hộp mã HS06 đều giảm trong tháng này.

Chuyển động tích cực bước đầu trong khai thác và xuất khẩu cá ngừ

Chuyển động tích cực bước đầu trong khai thác và xuất khẩu cá ngừ

Điểm sáng trong số các thị trường NK cá ngừ từ Việt Nam trong tháng vừa qua là Tuynidi – một trong những thị trường chủ lực NK cá ngừ đóng hộp của Việt Nam. Tốc độ tăng trưởng của thị trường này trong tháng đầu năm 2012 lên tới hơn 521%, một con số “đáng kinh ngạc”. Tiếp đến là thị trường Xuđăng cũng có tốc độ tăng trưởng rất cao, đạt 356,6%. Giá trị XK cá ngừ của Việt Nam sang thị trường Xuđăng chỉ riêng trong tháng 1/2012 đã lớn hơn tổng giá trị XK cá ngừ sang nước này trong cả năm ngoái. Điều này đã khiến Xuđăng trở thành 1 trong 10 thị trường NK nhiều nhất cá ngừ của Việt Nam, trong đó chủ yếu là cá ngừ đóng hộp mã HS16.

Cũng trong tháng 1, thị trường NK cá ngừ của Việt Nam có tốc độ tăng trưởng ổn định nhất trong năm 2011 là Mỹ lại có dấu hiệu sụt giảm so với cùng kỳ năm ngoái, giảm tới 34%, đạt 14,476 triệu USD. Đặc biệt, giá trị XK các mặt hàng cá ngừ có giá trị cao mã HS03 (trừ các sản phẩm cá ngừ thuộc mã HS0304) sang thị trường này giảm tới hơn 47%.

Trong khối EU, thị trường NK nhiều nhất cá ngừ của Việt Nam trong năm qua là Đức cũng có dấu hiệu sụt giảm tuy không đáng kể. Với đà tăng giá nguyên liệu ở trong nước như hiện nay và thị trường NK cá ngừ thế giới khá nhạy cảm về giá nên tình hình XK sang thị trường này sẽ gặp khó khăn.

Ngược với thị trường Đức, thị trường Italia vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng cao ở mức 2 con số, đạt 85,2%. Như vậy, có thể thấy tại thời điểm hiện tại, cuộc khủng hoảng kinh tế không ảnh hưởng nhiều đến nhu cầu tiêu thụ cá ngừ của thị trường này. Một sự thay đổi đáng lưu ý là trong suốt năm vừa qua, Bỉ luôn là nước đứng thứ 3 về NK cá ngừ của Việt Nam trong khối thì sang tháng đầu năm nay đã lùi xuống vị trí thứ 8. Thay thế thị trường Bỉ là Hà Lan, thị trường luôn đứng ở vị trí thứ 6 trong cả năm 2011.

Thị trường Canađa cũng có dấu hiệu tăng trưởng cao do sự chuyển dịch trong tỷ trọng giá trị XK từ sản phẩm cá ngừ có giá trị thấp (mã HS16) sang sản phẩm có giá trị cá ngừ có giá trị cao (mã HS03).

Như vậy, nhìn chung mặc dù tổng giá trị XK cá ngừ của cả nước trong tháng 1/2012 giảm nhưng với những điều thấy được từ một số thị trường nói trên, có thể nói XK cá ngừ của Việt Nam thời gian tới vẫn sẽ khả quan.

Thêm vào đó, cũng đang có những chuyển động tích cực xung quanh vấn đề nguồn cá ngừ nguyên liệu trong nước. Việc giải quyết sự thiếu hụt sản lượng cá ngừ nguyên liệu trong nước do khâu tổ chức khai thác chưa hợp lý trong nhiều năm qua mặc dù ngành thủy sản đã thử nghiệm nhiều mô hình khai thác, giờ đây dường như đã có giải pháp.

Chiến lược phát triển thủy sản Việt Nam đến năm 2020 đã xác định hoạt động khai thác thủy sản phải được chuyển từ “nghề cá nhân dân” sang “nghề cá hiện đại”. Việc tổ chức sản xuất theo tổ đội, ngư đội và nghiệp đoàn là bước đột phá quan trọng trong khâu tổ chức lại sản xuất trên biển. Chuyển đổi từ phương thức làm ăn nhỏ lẻ, “mạnh ai nấy làm” sang hợp tác sản xuất trên biển, chủ trương này đã được ngư dân nhiều địa phương ủng hộ. Mô hình “tàu mẹ – tàu con” đang được đưa vào ứng dụng tại một số nơi đang được đánh giá là có hiệu quả cao. Trong điều kiện thực tế hiện nay, mô hình liên kết khai thác và tiêu thụ hải sản trên biển đang được thí điểm tại Phú Yên là phương thức tổ chức sản xuất tiết kiệm. Theo mô hình này, sẽ khép kín quy trình từ khai thác – thu mua – chế biến – XK hải sản, giúp nâng cao giá trị đánh bắt của ngư dân.

Hy vọng trong thời gian tới, mô hình này sẽ được nhân rộng ra các tỉnh trọng điểm về đánh bắt cá ngừ của nước ta. Vì theo đánh giá của các chuyên gia, đây sẽ là “cứu cánh” trước mắt cho các DN về vấn đề nguyên liệu cá ngừ cho chế biến khi vào tại thời điểm hiện tại, các chính sách về NK nguyên liệu chưa được “thông thoáng” đối với DN. Bên cạnh đó, do Việt Nam chưa phải là thành viên của Ủy ban Nghề cá Tây Trung Thái Bình Dương (WCPFC) nên ngư dân và các DN Việt Nam đã và đang vấp phải các rào cản về đánh bắt và XK sản phẩm vào một số thị trường. Điều này đồng nghĩa với việc tăng cường NK nguyên liệu vẫn rất cần thiết để đẩy mạnh hoạt động XK của ngành cá ngừ Việt Nam.

Nguồn: Vasep

%d bloggers like this: