Bột Cá Biển

Cơ sở sản xuất bột cá Nguyễn Thị Sậu cung cấp bột cá biển (Cá Ngừ) 55 đạm, không pha tạp chất. Tel: 0966 245 345

Category Archives: Thức ăn Chăn nuôi

Năm 2011: Tăng cảnh báo của FDA về chế biến thủy sản

Năm 2011, Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA) đã tăng số thư cảnh báo đối với các công ty thủy sản, đặc biệt trong lĩnh vực chế biến. Từ cuối năm 2009, số thư cảnh báo chất lượng thủy sản bắt đầu tăng đáng kể, 42% trong năm 2009 – 2010, và 43% trong năm 2010 – 2011. Đặc biệt, các nhà chế biến thủy sản nội địa bị cảnh báo nhiều nhất.

Trong giai đoạn 2009 – 2011, không có công ty nào hoạt động trong lĩnh vực bảo quản trong kho, vận chuyển và bán lẻ bị cảnh báo, ngược lại có rất nhiều nhà chế biến và NK bất kể quy mô lớn nhỏ, trong đó một số là công ty sản xuất bánh mỳ, thuốc lá và thủy sản đóng hộp bị cảnh báo. Những tháng gần đây, còn có thêm cả những công ty sản xuất sandwiche cá ngừ và salat quy mô nhỏ hơn.

Cơ quan này thường cảnh báo công ty về một vi phạm tiêu chuẩn HACCP trong thủy sản và sau đó cảnh báo thêm những vi phạm khác.

Các công ty thường bị cảnh báo chủ yếu do chưa đáp ứng 3 vấn đề sau:

  • Thiếu kiểm soát nhiệt độ, đặc biệt đối với các loài thủy sản sinh histamin, thịt cua thanh trùng, thủy sản ướp lạnh bao gói chân không và các sản phẩm ăn liền;
  • Thiếu Kế hoạch HACCP: đặc biệt đối với sandwich cá ngừ và sushi;
  • Các nhà NK: thiếu các bước xác định và thẩm tra sản phẩm.

Ngoài ra, FDA còn tăng cường kiểm tra khuẩn Listeria trong quá trình thanh tra và gửi thư yêu cầu kiểm soát khuẩn này.

Hầu hết thư cảnh báo chỉ tham khảo Cẩm nang HACCP và quy định của FDA. Tuy nhiên, thư cảnh báo hiện nay có xu hướng thể hiện chính sách thanh tra mới hoặc chưa được biết đến nhiều của FDA. Tiêu biểu nhất là 2 loại thư cảnh báo trong năm 2009 – 2010 về lượng mạ băng hoặc sốt marinat đông lạnh ghi trên nhãn khối lượng tịnh của sản phẩm tôm. Hai cảnh báo này được đưa ra sau khi tiến hành kiểm tra và phát hiện vi phạm tại 17 bang của Mỹ.

Những thay đổi trong chính sách thanh tra của FDA (bao gồm cả việc mở rộng thẩm quyền ban hành thư cảnh báo cho các đơn vị thanh tra của FDA tại các bang) và tăng số lần thanh tra cũng như nhân viên thanh tra cũng là nguyên nhân để ban hành thêm nhiều thư cảnh báo.

Theo FDA, các cuộc thanh tra các cơ sở thực phẩm “có nguy cơ cao” tăng 13% trong năm 2009 – 2010. Trong năm 2011, FDA đặt mục tiêu thanh tra 7.800 cơ sở “có nguy cơ cao” và tăng thanh tra thực phẩm NK lên 438 cuộc so với 175 cuộc trong năm 2010.

Dự kiến năm nay sẽ tiếp tục tăng số lượng các cơ sở “có nguy cơ cao” bị thanh tra lên 8.850, vì vậy trong tương lai số thư cảnh báo của FDA sẽ còn tiếp tục tăng theo tinh thần của Đạo luật Hiện đại hóa An toàn thực phẩm (FSMA).

Tuy nhiên, theo quy định của FSMA, cơ quan này phải thanh tra ít nhất 1.200 cơ sở thực phẩm nước ngoài vào tháng 10/2012, tăng gấp đôi so với năm 2011. FDA cũng dự định tăng đánh giá các chương trình thanh tra nước ngoài từ 5 lên 9 lần trong năm nay.

Theo seafood.com
Advertisements

GlobalGAP yêu cầu phát triển bền vững nguồn bột cá và dầu cá

Sau khi tham khảo tư vấn của nhiều đối tượng trong ngành thủy sản, GlobalGAP đã kết thúc việc điều chỉnh các tiêu chuẩn sản xuất thức ăn thủy sản hỗn hợp. Yêu cầu sửa đổi tiêu chuẩn phiên bản 2.0, công bố năm 2010, đã được nhiều nhóm đối tượng đề xuất, bao gồm các nhà bán lẻ, các tổ chức chứng nhận, tổ chức phi chính phủ và các đại diện của ngành sản xuất thức ăn thủy sản.

Mẫu bột cá Ngừ độ đạm (55%), độ ẩm (10%)

Mẫu bột cá Ngừ độ đạm (55%), độ ẩm (10%)

Các ý kiến đề xuất này đã được Ủy ban Kỹ thuật về Chăn nuôi và Nuôi trồng thủy sản GlobalGAP thảo luận và thẩm định, sau đó được đưa ra lấy ý kiến cộng đồng.

Cụ thể, sẽ có thêm một mục mới có tên “Sử dụng có trách nhiệm nguồn lợi tự nhiên”, bao gồm 5 điểm kiểm soát với các tiêu chí tuân thủ chặt chẽ. GlobalGAP yêu cầu tìm hiểu về các giải pháp tích cực nhất để bảo vệ hệ sinh thái biển. Thông qua công tác nghiên cứu của Nhóm công tác kỹ thuật quốc gia Na Uy, GlobalGAP đã đưa ra các giải pháp mang tính thách thức và hiện đại cho vấn đề này. Hiện GlobalGAP đã bổ sung các tiêu chí về nguồn bột cá và dầu cá bền vững sử dụng để sản xuất thức ăn tổng hợp cho thủy sản nuôi và các loài động vật dạ dày đơn.

Phiên bản 2.1 đã được công bố từ tháng 12/2011, bắt đầu có hiệu lực từ tháng 1/2012 và sẽ bắt buộc thực hiện từ tháng 6/2012.

Nguồn: Vasep

Dây chuyền chế biến bột cá biển

Dây chuyền chế biến bột cá

Dây chuyền chế biến bột cá

Qui trình công nghệ:

Cá tươi nguyên liệu => Hấp chín lien tục => Vắt bớt nước liên tục => Sấy khô => Làm nguội lần 1 => nghiền mịn => Làm nguội lần 2 => Thành phẩm => Đóng bao => Bảo quản.

Thiết bị bao gồm:

– Công suất: 1 tấn/ h; 40 tấn/ngày
– Băng tải nạp liệu
– Phòng hấp liên tục bằng hơi
– Hệ thống sấy khô
– Hệ thống làm nguội
– Hệ hống nghiền mịn
– Lò hơi: 2.500 kg/h; P=10Kg
– Hệt hống đóng bao bằng thủ công hoặc bằng cân tự động

Hiện tượng hư hỏng thường xảy ra trong bảo quản bột cá

1. Hiện tượng bột cá hút ẩm

Nguyên nhân bột cá hút ẩm:

  • Nhiệt độ bột cá lúc bao gói.
  • Hàm lượng muối trong bột cá.
  • Kích thước của bột cá: bột càng mịn thì bề mặt tiếp xúc càng lớn -> bột cá hút ẩm càng nhanh.
  • Độ ẩm không khí: càng cao thì bột cá càng dễ hút ẩm. Tuy nhiên, nguyên liệu chế biến khác nhau thì độ hút ẩm của bột cá cũng khác nhau.
  • Bột cá khi hút ẩm sẽ tạo điều kiện cho vi sinh vật phát triển. Vi sinh vật phát triển sẽ sản sinh ra chất dính làm cho bột cá bị kết thành từng cục và có thể làm cho bột cá biến thành trạng thái bũn.

Các biện pháp kỹ thuật hạn chế hiện tượng hút ẩm của bột cá:

  • Tiến hành bao gói khi bột cá đã nguội.
  • Dùng vật liệu chống ẩm để bao gói bột cá.
  • Kho chứa bột cá phải cao ráo, thoáng đãng.

2. Hiện tượng tự phát nhiệt của bột cá
Hiện tượng tự phát nhiệt của bột cá thường phát sinh trong bột cá có nhiều dầu như bột cá sản xuất từ cá hố, cá trích….Hiện tượng phát nhiệt của bột cá có thể xảy ra ngay sau khi vừa sản xuất xong cũng có khi phát sinh trong quá trình bảo quản nguyên liệu và vận chuyển.

Tự phát nhiệt của bột cá có thể phân thành 2 loại:

  • Tự phát nhiệt bình thường: Sau khi làm khô bột cá thì phát nhiệt chủ yếu là do dầu bị oxy hóa.
  • Tự phát nhiệt ngẫu nhiên: Nguyên nhân là do sự oxy hóa chậm của dầu, tức là trong quá trình sản xuất dầu chưa bị oxy hóa hết nên về sau trong quá trình bảo quản dầu tiếp tục bị oxy hóa. Mặt khác, có thể là do bột cá hút ẩm tạo môi trường thuận lợi cho vi sinh vật phát triển và nhiệt độ của bột cá tăng cao.

Bất kì nguyên nhân nào nhưng kết quả cuối cùng của nó là nhiệt độ của bột cá lên cao, có thể dẫn đến mức độ bốc cháy.

Bột cá sau khi tự phát nhiệt và trước lúc bốc cháy màu sắc sẫm lại, dần dần kết thành cục có màu nâu sẫm. Tuy nhiên, không thể từ màu sắc và mùi vị mà đánh giá thành phần dinh dưỡng của bột cá bị giảm sút, nhưng bột cá đã phát nhiệt thì tỷ lệ tiêu hóa của protêin giảm xuống rất nhiều.

* Các nhân tố ảnh hưởng đến sự tự phát nhiệt:

a. Thành phần của bột cá:

  • Thành phần của chế phẩm trước tiên quyết định ở hàm lượng dầu trong nguyên liệu, sau đó quyết định ở phương pháp sản xuất.
  • Trong bột cá lượng dầu có từ 5 – 12% mà trong dầu cá thành phần chủ yếu là acid béo không bão hòa, rất dễ bị oxi hóa. Bột cá có hàm lượng dầu cao thì dễ xảy ra hiện tượng tự phát nhiệt hơn bột cá ít dầu.

b. Oxy

  • Bột cá tự phát nhiệt nguyên nhân chính là do dầu bị oxy hóa do đó oxy trở thành nhân tố quyết định trong quá trình oxy hóa.
  • Để hạn chế sự tiếp xúc của bột cá với oxi không khí người ta bao gói kín bột cá.

c. Nhiệt độ

  • Cũng giống như tất cả những phản ứng hóa học khác, dầu trong bột cá oxy hóa cũng thay đổi theo nhiệt độ. Bột cá sau sản xuất 24 giờ, bảo quản ở 510C thì trong mỗi giờ nhiệt độ bột cá tăng lên chừng 50F, bảo quản sau vài tuần thì nhiệt độ bột cá tăng lên mỗi giờ là 0,90C.

Bí ẩn thức ăn cá tra

Trong các yếu tố quyết định đến chất lượng cá tra, chất lượng thức ăn là yếu tố hàng đầu. Tổng cục Thủy sản cho biết, hiện cả nước có 98 nhà máy sản xuất thức ăn cá tra và người nuôi cá đã phải chịu nhiều thiệt hại do chất lượng thức ăn giảm (đạm tiêu hóa thấp) dẫn đến chất lượng cá nuôi giảm, kéo dài thời gian nuôi.

Thả thức ăn cho cá

Thả thức ăn cho cá

Về tỷ lệ đạm trong thức ăn cá tra, ông Dương Ngọc Minh, TGĐ Công ty Cổ phần Hùng Vương, đưa ra phân tích đáng chú ý. Hiện nay, tỷ lệ đạm ghi trên bao bì còn khác xa với tỷ lệ đạm con cá tiêu hóa được, thường đạm tiêu hóa chỉ từ 80% đến 93% lượng đạm ghi trên bao bì. Nếu tỷ lệ đạm tiêu hóa thấp, phải cho cá ăn nhiều hơn và thời gian nuôi cũng dài hơn 1-2 tháng, người nuôi thiệt đơn thiệt kép. Trên thị trường hiện có nhiều loại thức ăn cá tra, với độ đạm từ 22% đến 28%. Mỗi độ đạm trên bao bì ấy lại có nhiều công thức chế biến để có nhiều độ đạm tiêu hóa khác nhau. Chẳng khác gì một mê hồn trận. Đại diện nhiều doanh nghiệp sản xuất cá tra cũng kêu trời, không kể nông dân hay hợp tác xã. Bức xúc hơn nữa là giá thức ăn cho cá tra liên tục tăng, hiện đã tăng 10% so với đầu năm 2011 và tăng 30-40% so với cùng kỳ năm 2010. Các nhà máy sản xuất thức ăn cá tra đưa ra nhiều giải thích khác nhau. Tuy nhiên, Tổng cục Thủy sản cho rằng, các giải thích chưa thỏa đáng khi giá nguyên liệu để sản xuất thức ăn trên thị trường trong và ngoài nước đã giảm đáng kể.

Giá cá tra giảm, nhưng giá thức ăn liên tục tăng, cộng với chất lượng thức ăn hiện gần như bị thả nổi, khiến con cá tra và người nuôi cá có thể gặp rủi ro bất cứ lúc nào. Bởi người nuôi không thể kiểm soát được trong thức ăn cho cá họ mua về có những chất gì, mà chất lượng cá lại phụ thuộc vào thức ăn. Nếu không được kiểm soát chất lượng, cá tra Việt Nam, dù đang là thương hiệu lớn, nhưng có thể mất thị trường bất cứ lúc nào.

(Theo báo Tiền Phong)

ĐBSCL: Giá thức ăn gây khó người nuôi cá

Từ đầu năm đến nay, giá thức ăn nuôi cá tra ở ĐBSCL tăng 10% và cao hơn cùng kỳ từ 30 – 40%.

Riêng thức ăn cá tra 28 độ đạm đang được các doanh nghiệp chế biến thức ăn bán với giá dao động từ 10.500 – 12.000 đồng/kg, tăng 35% so với cùng kỳ. Giá thức ăn tăng tùy tiện và liên tục, mặc dù giá nguyên liệu trên thế giới đã giảm.

Ông Nguyễn Việt Thắng – Chủ tịch Hội Nghề cá Việt Nam cho rằng: “Trong nuôi cá tra thì thức ăn chiếm tới 80% giá thành. Trong thời gian qua, quản lý nhà nước đã bỏ qua những doanh nghiệp sản xuất thức ăn dẫn đến giá tăng liên tục. Vì vậy đã ảnh hưởng rất lớn đến người nuôi cá tra”.

Khi giá thức ăn tăng, người nuôi nhỏ lẻ là người chịu thiệt thòi nhiều nhất. Ông Dương Ngọc Minh – Tổng Giám đốc Công ty CP Thủy sản Hùng Vương, tính toán: “Hiện nay, người nuôi cá tra nhỏ lẻ phải mua thức ăn từ đại lý cao hơn so với các doanh nghiệp lớn, nông dân có vốn khoảng 20%. Vì vậy, giá thành của hộ dân nuôi nhỏ lẻ lên đến 24.000đồng/kg. Trong khi doanh nghiệp có vốn, lấy thức ăn trực tiếp, được miễn thuế VAT nên giá giảm xuống còn từ 20.000 – 21.000 đồng/kg”. Đây cũng chính là nguyên nhân, người nuôi cá tra nhỏ, lẻ ở ĐBSCL ngày càng “chết” dần.

Theo tiến sĩ Dương Nghĩa Quốc – Giám đốc Sở NN&PTNT Đồng Tháp: “Toàn bộ diện tích thả nuôi ở tỉnh thì diện tích của các doanh nghiệp chiếm tới 70%; gần 30% còn lại là hộ nông dân có vốn lớn để đầu tư và hộ nuôi nhỏ lẻ. Trong đó, hộ nuôi nhỏ, lẻ gần như không còn như trước. Họ đang co cụm và từ từ biến mất”.

Nhiều hộ nuôi nhỏ lẻ đã chuyển qua nuôi gia công cho doanh nghiệp. Nông dân Nguyễn Văn Hùng – ở huyện Châu Phú, tỉnh An Giang, tính toán: “Những người nuôi nhỏ, lẻ như tui phải chuyển qua nuôi gia công hoặc phải “treo” ao để chuyển sang làm nghề khác…”.

(Theo báo Dân Việt)

Thay thế bột cá bằng bột đậu nành làm thức ăn cho cá lóc bông

Nguồn: Trần Thị Thanh Hiền (Khoa Thủy sản – Đại học Cần Thơ), Lê Quốc Toán, Trần Thị Bé, Nguyễn Hoàng Đức Trung, David Bengtson

Tóm tắt

Mẫu bột cá Ngừ độ đạm (55%), độ ẩm (10%)

Mẫu bột cá Ngừ độ đạm (55%), độ ẩm (10%)

Trong chế biến thức ăn thủy sản, bột cá được xem là nguồn protein tốt nhất. Tuy nhiên, sản lượng bột cá ngày càng khan hiếm, giá thành ngày càng tăng nên giá thành thức ăn cũng tăng cao, làm ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của người nuôi. Hiện nay có nhiều nghiên cứu về việc thay thế bột cá bằng các nguồn protein thực vật rẻ tiền so với bột cá.. Kết quả nghiên cứu cho thấy khi sử dụng bột đậu nành hoặc kết hợp bột nành với các nguồn protein khác có thể thay thế bột cá dao động từ 30-75% khi làm thức ăn cho một số loài cá như cá đù (Nibea miichthioides), cá tráp mõm nhọn (Diplodus puntazzo), cá da trơn Nam Mỹ (Silurus meridionalis), cá chỉ vàng (Lutjanus argentimaculatus) và cá rô phi vằn giống (Oreochromis niloticus). Đối với cá lóc giống (Channa striata) khi thay thế protein bột cá bằng protein bột đậu nành trong công thức thức ăn thì khả năng thay thế đạt 30% (Trần Thị Thanh Hiền, 2008).

Nghiên cứu được tiến hành để xác định khả năng thay thế protein bột cá bởi protein bột đậu nành, có bổ sung enzym phytase làm thức ăn cho cá lóc bông. Nghiệm thức thức ăn đối chứng với nguồn cung cấp protein là bột cá, 4 nghiệm thức còn lại có mức protein bột cá được thay thế bởi protein bột đậu nành lần lượt là 20%, 30%, 40%, 50% và có bổ sung 0,02% phytase. Cá lóc bông giống chọn làm thí nghiệm có khối lượng từ 4-5g/con, được bố trí ngẫu nhiên trong 15 bể (100 lít/1bể), với mật độ 25 con/bể. Cá được cho ăn theo nhu cầu, 2 lần trên ngày. Sau 8 tuần thí nghiệm, thì cá nuôi ở các nghiệm thức không có sự khác biệt về tỷ lệ sống (từ 77,3% đến 80%). So với nghiệm thức đối chứng và các nghiệm thức có bột đậu nành thay thế ở mức 20%, 30%, 40% thì không có sự khác biệt về tăng trưởng của cá, hệ số thức ăn, hiệu quả sử dụng protein. Còn nghiệm thức 50% bột đậu nành thay thế bột cá thì có khác biệt khi so sánh về các chỉ tiêu trên, trừ hệ số thức ăn. Kết quả cũng cho thấy rằng không có sự khác biệt về thành phần protein trong cơ thể cá ở các thí nghiệm khi tăng mức bột đậu nành. Về mặt kinh tế, ở mức thay thế 40% bột đậu nành cho bột cá làm thức ăn cho cá lóc bông thì giảm chi phí thức ăn/1kg và chi phí thức ăn/1kg cá tăng trọng lần lượt là 10.8% và 4.83%.

(Kết quả nghiên cứu được hỗ trợ từ dự án AquaFishCRSP-TrashFish)

QUY TRÌNH CHẾ BIẾN BỘT CÁ VÀ DẦU CÁ CƠ BẢN

Sơ đồ quy trình chế biến bột cá

Sơ đồ quy trình chế biến bột cá

Về nguyên tắc, quá trình sản xuất bột cá và dầu cá chỉ đơn giản hàm ý sự tách tốt nhất có thể của 3 thành phần chính tự nhiên của nguyên liệu:

– Phần dầu
– Phần rắn
– Phần nước

Thành phần đặc trưng của loại cá công nghiệp như cá mòi nạc (lean sardine), gồm 6% dầu, 18% chất rắn và 76% nước. Sản lượng sản xuất trung bình ước tính từ nguyên liệu này bằng cách xử lý thông thường là 21,9% bột và 4% dầu. Do đó, cho mỗi tấn nguyênliệu, 219 kg bột và 40 kg dầu được chiết xuất bằng sự kết hợp của các công nghệ khử dầu và khử nước cơ học và nhiệt. Cần phải nhấn mạnh rằng sản lượng tốt nhất có thể, bên cạnh việc quan trọng cho tính khả thi tổng thể, là rất quan trọng trong việc ngăn chặn ô nhiễm bởi nồng độ chất béo và chất rắn trong chất thải. Với quan điểm này, nguyên liệu chất lượng cao đóng một vai trò quan trọng. Điều này có tầm quan trọng cao nhất trong việc lập kế hoạch cung cấp, xử lý và các phương tiện lưu trữ và bảo quản nguyên liệu.

Bản cân bằng khối lượng kèm theo cho thấy một hệ thống xử lý chế biến bột cá và dầu cá thông thường, dựa trên khái niệm thu hồi hoàn toàn. Từ bảo quản bên ngoài, nguyên liệu được cấp vào lò nấu để gia nhiệt gián tiếp và làm đông các protein. Mặc dù được xem như một bước xử lý không cao, đây là bước quan trọng nhất trong toàn bộ quá trình khử nước.

Bước tiếp theo, sau khi lọc sơ bộ trung gian nguyên liệu đông, sự khử nước cơ học, thường được tiến hành bởi các máy ép vít đôi quay chậm. Phần rắn từ máy ép vít đôi này được chuyển trực tiếp đến giai đoạn nhiệt cuối, (các) máy sấy. Phần chất lỏng cùng với chất lỏng từ bộ lọc sơ bộ, được tiếp tục tách trong các bước khác nhau của các máy ly tâm.

Bộ lọc sơ bộ và máy ép chất lỏng có chứa các nguyên liệu rắn lơ lửng và hòa tan, ngoài dầu. Các chất rắn lơ lửng bị loại bỏ khỏi chất lỏng này bởi một máy ly tâm lắng gạn và được trộn với phần rắn từ một máy ép vít trước giai đoạn sấy khô.

Bước tiếp theo là khử dầu của máy lắng gạn chất lỏng. Bước này được tiến hành bởi các máy tách ly tâm tốc độ cao trong một, hai hoặc ba bước tùy thuộc vào nguyên liệu và các điều kiện xử lý. (Các) phần dầu cuối cùng được làm nguội để bảo quản với nhiệt độ dưới 40°C.

Phần nước từ máy tách chính vẫn chứa khoảng 10% chất rắn hòa tan. Phần chất lỏng này, nước dịch ép, được cô đặc trong một máy bay hơn đa tác động lên đến khoảng 35% hàm lượng chất rắn, trước khi được trộn với bã ép và bùn lắng gạn trước khi sấy.

Quá trình sấy khô thường được xem như phần khó nhất của quy trình. Các giải pháp công nghệ ở giai đoạn này thực sự là yếu tố phân biệt giữa các nhà sản xuất chất lượng cao và chất lượng thấp. Ngày nay, các máy sấy bằng lửa trực tiếp đời cũ đang dần biến mất. Các loại máy chiếm ưu thế hiện nay là các máy sấy hơi gián tiếp và/ hoặc không khí nóng trực tiếp hay các máy sấy chân không (hơi nước quá nhiệt). Trong các hệ thống công suất lớn, các máy sấy hơi nước thường được sử dụng như các máy sấy sơ bộ kết hợp với các máy sấy không khí nóng/ không có không khí như giai đoạn cuối. Sự kết hợp này cho phép giảm năng lượng tiêu thụ và mang lại chất lượng cao cho sản phẩm bột cá.

Sự tiêu thụ năng lượng điển hình từ một quy trình với cấu hình máy sấy theo mẻ như vậy là khoảng 35 kg dầu nhiên liệu trên mỗi tấn nguyên liệu. Về lượng điện tiêu thụ điển hình, mức trung bình là khoảng 30 – 40 kWh trên mỗi tấn nguyên liệu.

ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG

Sản phẩm bột cá ngừ và dầu cá ngừ thô của chúng tôi phải trải qua các cuộc kiểm tra chất lượng cùng với phân tích phòng lab theo từng lô hàng xuyên suốt cả quá trình sản xuất.

Thành phẩm được lấy mẫu thường xuyên để kiểm nghiệm ngoại quan và cảm quan. Vệ sinh nhà máy được kiểm soát chặt chẽ cùng với một chương trình vệ sinh toàn bộ dây chuyền mỗi ngày.

Chào bán Bột cá Ngừ sấy khô độ đạm 55% độ ẩm 10%

Mẫu bột cá Ngừ độ đạm (55%), độ ẩm (10%)

Mẫu bột cá Ngừ độ đạm (55%), độ ẩm (10%)

Cơ sở sản xuất Bột cá Dương Quang cung cấp Bột cá Ngừ sấy khô với độ đạm 55%, độ ẩm 10% , giá cạnh tranh. Bột cá Ngừ được sản xuất từ 100% nguyên liệu cá Ngừ không pha tạp chất.

Chúng tôi giao hàng tận nơi khu vực ĐBSCL, Tp.Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai… Quý khách ai có nhu cầu mua xin liên hệ số điện thoại bên dưới.

Trân trọng và chúc sức khỏe.

Miss Liên
Tel: 0989.22.30.32
Email: fleohau@gmail.com

Giá thức ăn chăn nuôi trong tháng 10 đa số đều tăng nhẹ

Theo báo cáo từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, giá thức ăn chăn nuôi trong tháng 10 đa số đều tăng nhẹ so với thời điểm tháng 9; Giá ngô, khô dầu đậu tương, bột cá… đều tăng trên 2,8%, chỉ có giá sắn lát giảm, giá thức ăn hỗn hợp cho lợn thịt không có biến động.

Giá ngô trong tháng 10 ở mức 7.507,5 đồng/kg (tăng 2,8%), khô dầu đậu tương 10.710 đồng/kg (tăng 5%), bột cá 21.000 đồng/kg (tăng 4%), cám gạo 7.350 đồng/kg (tăng 6,5%), sắn lát khô 6.090 đồng/kg (giảm 4,8%), Methionine 120.750 đồng/kg (tăng 2,3%) và Lyzin 60.900 đồng/kg (tăng 6,8%).

Giá thức ăn chăn nuôi thành phẩm không đổi. Trong đó, thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh gà Broiler trên 10.678 đồng/kg, thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh lợn thịt giai đoạn từ 60kg đến khi xuất chuồng khoảng 9.470 đồng/kg.

Trước đó, để đẩy mạnh sản xuất, đảm bảo cung ứng thực phẩm, bình ổn giá thị trường, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã chỉ đạo Bộ Tài chính “Xem xét miễn giảm thuế nhập khẩu đối với ngô, lúa mì chuyên dùng sản xuất thức ăn chăn nuôi”.

Tuy nhiên quan điểm của Bộ Tài chính là không điều chỉnh mà vẫn giữ nguyên mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi với ngô và lúa mì như hiện hành.

Bộ Tài chính cho rằng giá thức ăn chăn nuôi sẽ giảm không đáng kể khi giảm thuế nhập và để hạ giá thành sản xuất thức ăn chăn nuôi thì cần tính đến biện pháp khác như khuyến khích các doanh nghiệp tăng tỉ lệ sử dụng nguyên liệu sản xuất thức ăn trong nước, tăng cường kiểm tra rà soát giá, ưu đãi tín dụng, hoặc ân hạn thuế…

Nguồn: Vinanet

%d bloggers like this: