Bột Cá Biển

Cơ sở sản xuất bột cá Nguyễn Thị Sậu cung cấp bột cá biển (Cá Ngừ) 55 đạm, không pha tạp chất. Tel: 0966 245 345

Category Archives: Kiến thức hữu ích

Giá heo đồng loạt tăng nóng

Giá heo hơi trên cả nước những ngày qua liên tục tăng, dao động 40.000-41.000 đồng một kg.

Tại huyện Hải Hậu – Nam Định, thương lái đang lùng mua heo tận chuồng với giá gần 4 triệu đồng 100kg, trong khi cách đó một tuần giá chỉ khoảng 2,5 triệu đồng. Bà Lan, chủ hộ chăn nuôi lâu năm tại huyện Hải Hậu cho biết thương lái liên tục gọi điện thu mua và nhờ giới thiệu các trại còn heo tồn, có uy tín.

Ở các địa phương chăn nuôi heo tập trung của miền Bắc như: Hải Dương, Hưng Yên cũng ghi nhận tình trạng xe vận chuyển đến các cửa khẩu (Lạng Sơn) nhộn nhịp.

Tại các tỉnh phía Nam, cơn sốt tăng giá cũng diễn ra không kém. Tại Bến Tre, ông Lê Văn Liêm, xã Cẩm Sơn, huyện Mỏ Cày Nam, cho biết ông mới bán 23 con heo cho thương lái với giá 4 triệu đồng 100kg. Với giá này, người chăn nuôi tạm thời thoát cảnh lỗ triền miên và có lãi. Đây cũng là mức giá cao nhất từ cuối tháng 11/2016 đến nay, thậm chí, chỉ trong một ngày giá heo hơi khu vực Bến Tre tăng thêm trung bình 3.000 đồng một kg như ngày 17/7.

 

Giá heo đồng loạt tăng mạnh tuần qua trên nhiều địa phương.

Đồng Nai – “thủ phủ” của ngành chăn nuôi heo cũng ghi nhận giá tăng nóng mấy tuần gần đây. Theo ghi nhận, từ ngày 14/7 đến nay giá heo hơi loại một (90-110kg mỗi con) xuất bán tăng liên tục, dao động từ 32.000 đến 36.000 đồng một kg, tăng 9.000-15.000 đồng mỗi kg so với trước đó. Đến sáng 18/7 có nhiều nơi nông dân đã xuất chuồng được trên 45.000 đồng một kg. Đây là lần tăng giá nhanh và cao nhất trong bảy tháng trở lại, dù vẫn thấp hơn khoảng 4.000 đồng một kg so với một số tỉnh thành phía Bắc.

Heo tăng giá cũng giúp cho rất nhiều người “sống lại”, từ các hộ nhỏ lẻ đến trang trại. Các nhà máy thức ăn, doanh nghiệp kinh doanh nguyên liệu cũng thở phào với số hàng tồn kho đang chất cao như núi. Đại lý thức ăn, thuốc thú y có cơ hội thu hồi nợ, tiếp tục bán hàng. Ngay cả người làm dịch vụ vận chuyển thức ăn, vận chuyển heo hơi cũng có thêm việc làm, thêm thu nhập khi thị trường thịt heo sôi động trở lại.

Do giá tăng quá nóng, vài ngày gần đây xuất hiện thông tin giá heo tăng ảo và do một số doanh nghiệp, trang trại lớn làm giá. Tuy nhiên, theo phân tích của giới chuyên môn, nếu nhìn tín hiệu giá tăng liên tục vài tuần gần đây, có thể khẳng định thị trường rất khó tăng ảo nếu như không có biến động cung, cầu. Heo tăng giá xuất phát từ nguyên nhân trong quãng thời gian hai tuần cuối tháng 6 và đầu tháng 7, Trung Quốc đột ngột gia tăng nhập khẩu. Khoảng nửa tháng giai đoạn này, mỗi ngày có ít nhất hơn 10.000 con heo được thương lái gom từ khắp nơi xuất sang Trung Quốc, làm giảm đi nhanh chóng đàn heo quá cỡ còn tồn đọng ở các trang trại. Mặc dù, giá heo hơi giao dịch tại cửa khẩu chỉ quanh ngưỡng 35.000-38.000 đồng một kg, nhưng bấy nhiêu đó cộng với việc xuất được khối lượng lớn cũng giúp thị trường nội địa xảy ra biến động nguồn cung, gây tăng giá.

“Đàn heo quá cỡ được giải quyết, cộng với nhu cầu nội địa vẫn ở mức cao nên nguồn cung trong nước giảm nhanh, giá tăng”, đại diện một doanh nghiệp chăn nuôi nước ngoài nói, đồng thời phân tích bên cạnh tín hiệu tăng giá, xét đến yếu tố tổng đàn, cũng có thể thấy hiện đàn heo đã ổn định, không còn tồn đọng quá nhiều như các tháng trước nên khi có lực cầu lớn từ Trung Quốc, giá tăng là khó tránh.

Ngoài nguyên nhân Trung Quốc tăng nhập khẩu, từ tháng 4/2017 trở đi, do nguồn cung dư thừa, giá heo giảm xuống đáy nên người dân cả nước đổ xô ăn thịt heo với nhiều cuộc giải cứu heo từ thành phố đến nông thôn. Do đó, ngay từ tháng 7 đã xuất hiện cung cầu vênh nhau khiến giá tăng.

Ông Nguyễn Xuân Dương, Phó cục trưởng Cục Chăn nuôi (Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn) cũng nhìn nhận, heo tăng giá trở lại là kết quả của nỗ lực “giải cứu” thịt heo từ sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, các Bộ, ngành, người dân trong suốt thời gian qua, cộng thêm nhu cầu nhập khẩu của các nước đang tăng, đặc biệt là Trung Quốc.

Trưởng phòng thương mại Sở Công Thương Đồng Nai – ông Lục Văn Thủy, cũng khẳng định lượng heo tồn ở địa phương này hầu như đã hết, nên lượng heo thịt hiện ngang bằng với nhu cầu của thị trường.

Ông Lê Xuân Huy, Phó tổng giám đốc Công ty chăn nuôi CP Việt Nam cũng khẳng định việc “làm giá” của các doanh nghiệp là rất khó xảy ra, bởi đa phần lượng heo được  nuôi tại Việt Nam là do các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ quản lý. Ngay như với CP Việt Nam, dù được xem là một trong những doanh nghiệp lớn nhất của ngành chăn nuôi heo, nhưng tổng số lượng heo nuôi hiện nay chỉ chiếm khoảng 5% thì vai trò của việc điều tiết giá là điều không tưởng.

“Là công ty đại chúng nên chúng tôi công khai giá bán ở mọi thời điểm. Chính  vì vậy, có nhiều nơi hay nhìn vào giá niêm yết heo hơi của công ty để đưa ra nhận định chung về mặt bằng giá cả”, ông Huy nói.

Nguồn: http://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/hang-hoa/gia-heo-dong-loat-tang-nong-3615070.html

Advertisements

ICCAT thông qua kế hoạch cá ngừ mắt to, cá ngừ vây xanh

Tại cuộc họp tại Vilamoura, Bồ Đào Nha từ ngày 14 – 21/10/2016, Ủy ban Quốc tế về Bsatellite-data-can-help-protect-bluefin-tuna636159241393176776-pngảo tồn cá ngừ Đại Tây Dương (ICCAT) đã thông quá kế hoạch thực hiện chiến lược khai thác cá ngừ vây xanh và cá ngừ mắt to mới.

Theo Tổ chức Phát triển bền vững Thủy sản Quốc tế, ICCAT đã nhận được 1 lá thư từ các tổ chức phi chính phủ  cùng chí hương và các đồng nghiệp trong ngành trước khi cuộc họp diễn ra, trong đó nhấn mạnh về sự cần thiết của việc tiếp tục thực hiện các chiến lược thu hoạch của năm nay.

Một chuyên gia cao cấp của Pew cho biết, quyết định tăng hạn ngạch khai thác cá ngừ vây xanh Đông Đại Tây Dương đặt ra một tiền lệ nguy hiểm, và cho thấy cam kết của các thành viên ICCAT về việc quản lý dựa trên cơ sở khoa học rất mong manh.

Ngoài ra, việc không có hành động mới nào để bảo vệ cá ngừ mắt to, loài đang bị đe dọa do sự gia tăng của việc sử dụng thiết bị thu hút cá (FAD) tại vùng biển Đại Tây Dương, ICCAT đã cho phép việc lạm thác cá ngừ mắt to được tiếp tục diễn ra, nguy cơ tiếp tục suy giảm nguồn lợi.

 

Các chiến lược thu hoạch cá ngừ vây xanh và cá ngừ mắt to, khi thực hiện thành công, sẽ cho phép ủy ban có hành động nhanh chóng để khôi phục nguồn lợi và đảm bảo lợi nhuận, tính bền vững, và ổn định lâu dài.

 (Theo Undercurrentnews)

Lệnh cấm khai thác cá ngừ tại Thái Bình Dương có hiệu lực

pacificbluetuna5918636160939391518732Lệnh cấm khai thác lần thứ 2 được thiết lập nhằm bảo vệ các loài cá ngừ khác nhau tại vùng biển Thái Bình Dương đã có hiệu lực từ ngày 18/11/2016.

Lệnh cấm khai thác sẽ kéo dài tới ngày 18/01/2017. Lệnh cấm đầu tiên được thực hiện từ ngày 29/7 đến ngày 28/9/2016.

Những lệnh cấm này giúp bảo vệ các giai đoạn sinh học nhạy cảm nhất của các loài, với mục đích đảm bảo rằng các loài này tồn tại đến mùa khai thác sau nhằm mục đích duy trì hoạt động, và góp phần vào an ninh lương thực trong cũng như ngoài nước, và các lợi ích khác.

Tại Mexico, nghề khai thác cá ngừ được quy định bởi NOM-001-SAG/PESC-2013, trong đó thiết lập các thông số kỹ thuật đối vơi hoạt động khai thác cá ngừ của các tàu lưới vây, cũng như thiết lập các giai đọan cấm khai thác.

Theo số liệu thống kê của Ủy ban Cá ngừ nhiệt đới khu vực Bắc – Nam Mỹ (IATTC), tính đến ngày 02/10. Các tàu cá ngừ của Mexico đã đánh bắt 96.354 tấn cá ngừ, tương đương 19,5% tổng sản lượng khai thác đã đăng ký tại khu vực Đông Thái Bình Dương (EPO).

Cá ngừ vây vàng chiếm phần lớn sản lượng khai thác của Mexico, đạt 79.032 tấn. Tiếp đến là cá ngừ vằn, đạt 10.393 tấn, cá ngừ chấm đạt 3.489 tấn, và cá ngừ vây xanh Thái Bình Dương đạt 2.904 tấn.

Sản lượng khai thác của các tàu Mexico chỉ vượt ngưỡng của Ecuador, nước trong 9 tháng đầu năm 2016 sản lượng khai thác đạt 211.739 tấn.

(Theo Fis)

Tháng 12/2016: Giá cá ngừ vằn thế giới tăng

ca-ngu-van636162865132904781Tháng 12/2016, giá cá ngừ vằn giao tại Bangkok, Thái Lan tăng cao hơn so với tháng 11 do hoạt động khai thác tại Tây Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương trầm lắng.

Thông thường, giá cá ngừ vằn giảm trong tháng 12 do người dân có xu hướng không ăn cá ngừ hộp.

Thông tin giá tăng có thể ảnh hưởng tới tất cả các nhà NK cá ngừ vằn ở Ấn Độ Dương, Tây Ban Nha, Ecuador, Colombia và một số nước khác.

Giá cá ngừ vằn ở Bangkok trong tháng 12 năm nay đạt mức 1.500 USD/tấn (giá C&F), tăng từ 1.350-1.400 USD/tấn trong tháng 11 và 1.100-1.200 USD/tấn thời điểm trước đó trong năm nay. Mặc dù vậy, mức giá của tháng 12 vẫn thấp hơn mức 1.600 USD/tấn hồi tháng 4.

Nguồn cung cá ngừ hiện tại khá thấp do sản lượng khai thác ở Tây Thái Bình Dương (WPO) trong tháng 10 giảm và ngư trường ở Đông Thái Bình Dương (ETP) đóng cửa.

Đối với nhiều công ty đóng hộp cá ngừ ở Thái Lan, thông tin giá tăng khiến họ không mấy vui mừng do giá nguyên liệu đầu vào tăng và có thể làm xấu thêm các vấn đề tài chính của họ.

Giá cá ngừ tại Ecuador cũng đang tăng trong bối cảnh sản lượng khai thác giảm.

Theo undercurrentnews

Ô nhiễm đe dọa nuôi trồng hải sản

4-chan-1478874875662636147316179474512Ngày 11/11, tại hội thảo “Phát triển nuôi trồng thủy sản biển” do Tổng cục Thủy sản (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) tổ chức ở TP Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, ông Trần Đình Luân – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản – cho rằng nghề nuôi biển đang đối diện với nhiều thách thức, trong đó nghiêm trọng nhất là vấn đề ô nhiễm môi trường ven biển.

Tại hội thảo, ông Trần Công Khôi, Phó Vụ trưởng Vụ Nuôi trồng thủy sản, cho biết tiềm năng nuôi trồng thủy sản biển ở nước ta rất lớn với gần 250.000 ha, trong khi đó diện tích nuôi trồng hiện nay chỉ đạt 40.000 ha. Đáng chú ý, nghề nuôi cá biển đối mặt nhiều rủi ro khi sản lượng sụt giảm từ 34.413 tấn (năm 2012) còn 30.550 tấn (năm 2015).

Theo ông Khôi, việc nuôi trồng hải sản thiếu quy hoạch, trình độ kỹ thuật, sản xuất kém, gây ô nhiễm môi trường, phát triển thiếu bền vững. Bên cạnh đó, quá trình phát triển kinh tế – xã hội khiến môi trường ven biển ngày càng bị ô nhiễm. Điều này khiến thời gian qua hải sản nuôi trồng ven bờ chết liên tục tại Khánh Hòa, Bình Thuận, Bà Rịa – Vũng Tàu, Phú Yên… làm người nuôi điêu đứng.

Ông Nguyễn Quang Huy, Viện phó Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1, cho rằng dịch bệnh thường xuyên xảy ra ở các vùng biển ô nhiễm môi trường, mật độ ô lồng cao. Ngoài ra, sự cố môi trường Formosa từ Hà Tĩnh đến Thừa Thiên – Huế vừa qua sẽ khiến chất lượng, sản lượng nuôi trồng thủy sản biển ở đây giảm.

Cùng quan điểm trên, ông Nguyễn Tự Trọng, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn TP Hải Phòng, cho rằng các mối nguy hại từ các KCN, hoạt động xây dựng, du lịch… đã đe dọa nghề nuôi thủy sản. Như ở đảo Cát Bà, đây là điểm nuôi trồng lớn với trên 500 lồng, sắp tới phải giảm xuống còn trên 100 lồng.

Ông Phạm Đức Phương, quản lý trại nuôi cá biển quy mô công nghiệp tại vịnh Vân Phong (tỉnh Khánh Hòa) của Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1, cho biết viện đầu tư 12 tỉ đồng xây dựng trại nuôi biển quy mô sản xuất 200-300 tấn/năm với công nghệ lồng bè bằng nhựa của Na Uy. Hệ thống này có khả năng chịu sóng gió, giảm thiểu nguy cơ ô nhiễm. Tại Khánh Hòa thời gian qua hải sản nuôi chết hàng loạt ở rất nhiều nơi nhưng trại nuôi này nuôi rất xa bờ nên không bị ảnh hưởng. Tuy vậy, chi phí khá cao, để áp dụng công nghệ mới này thực sự cần sự hỗ trợ, chính sách của Chính phủ.

(báo Người Lao động)

Hạch toán kinh tế chăn nuôi heo thịt công nghiệp trại 1000 con

Hiện nay chăn nuôi heo thịt theo hình thức công nghiệp đang được bà con chăn nuôi áp dụng rộng rãi và mang lại hiệu quả kinh tế cao. Ngành chăn nuôi heo nước ta đang dần lớn mạnh đáp ứng xu thế cạnh tranh của thị trường ngày càng lớn và nhu cầu trong nước ngày một tăng cao.

Chăn nuôi heo theo hình thức công nghiệp đòi hỏi người chăn nuôi cần có kinh nghiệm cũng như nắm được nhu cầu của thị trường chăn nuôi.
Hạch toán nuôi heo
Sau một thời gian tiếp cận các trại chăn nuôi tại khu vực Hưng Yên và Hải Dương chúng tôi đã tổng hợp được những thông tin hữu ích, giúp bạn đọc có cái nhìn cụ thể hơn về tình hình chăn nuôi cũng như những rủi ro thường gặp của những hộ chăn nuôi heo.
Sau bài viết hạch toán kinh tế chăn nuôi heo thịt tại nông hộ, chúng tôi tiếp tục đưa ra bài viết hạch toán chăn nuôi heo thịt công nghiệp để bạn đọc có cái tổng quan hơn về ngành chăn nuôi heo.
Trong bài viết này chúng tôi chỉ hạch toán chăn nuôi heo thịt công nghiệp, với các chi phí con giống, thức ăn, thuốc thú y mà không đưa hạch toán hao phí trại cũng như các nguồn thu từ phụ phẩm chăn nuôi.
1. Con giống
Với chăn nuôi heo thịt công nghiệp, do những chi phí ban đầu cao nên con giống được sử dụng cần đòi hỏi đáp ứng được tốc độ phát triển cũng như tỷ lệ nạc.
Hiện nay các giống heo siêu được sử dụng chủ yếu trong chăn nuôi heo thịt chủ yếu có máu Pietran, Duroc, Landrace và Yorkshire.
Giá một heo giống 10kg tại thị trường miền Bắc nước ta khoảng 1 – 1,4 triệu/con. Tại thị trường miền Nam giá heo này khoảng 100.000đ/kg (heo >20kg).
Như vậy giá giống cho một đầu heo giống 10kg khoảng 1,2 triệu/con → Với quy mô 1000 con heo thịt, chi phí giống hết 1.200.000 x 1000 = 1.200.000.000đ (1)
2. Thức ăn
Với heo giống được bắt ở 10kg ta vẫn cần úm heo trong 15 ngày đầu sau khi bắt.
Thức ăn cần thiết cho heo thịt công nghiệp theo khuyến cáo của các công ty thức ăn chăn nuôi gồm:
– Thức ăn hỗn hợp cho heo con: với 1 heo giai đoạn này sử dụng hết 25kg thức ăn với giá 18.00đ/kg → tiền thức ăn giai đoạn này 450.000đ.
– Thức ăn hỗn hợp cho heo giai đoạn heo thịt: giai đoạn nuôi thịt heo sử dụng khoảng 125kg với giá 13.200đ/kg → 1.650.000đ .
– Thức ăn hỗn hợp cho heo giai đoạn xuất bán: heo giai đoạn này thường sử dụng khoảng 25kg thức ăn có giá khoảng 12.000đ/kg → số tiền thức ăn hết 300.000đ
Sản xuất một heo thịt từ 10kg tới 100kg hơi chi phí thức ăn là: 450.000 + 1.650.000 +300.000 = 2.400.00đ.
→ Để nuôi 1000 heo thịt theo phương thức an toàn sinh học (cùng vào cùng ra) chi phí thức ăn khoảng 2.400.000 x 1000 = 2.400.000.000đ (2).
3. Thuốc thú y
Trong chăn nuôi hiện nay vai trò của thú y chiếm một vị thế quan trọng và không thể thiếu trong chăn nuôi hiện nay.
Với quy trình phòng bệnh hiện nay chi phí cho 1 heo nuôi thịt từ lúc 10kg tới khi xuất chuồng khoảng 180.000đ/con trong đó chi phí vaccine khoảng 80.000đ (10.000đ vaccine dịch tả, 25.000đ vaccine suyễn, 30.000đ vaccine PRRS, 25.000đ vaccine LMLM), 100.000đ chi phí cho việc phòng kháng sinh và thuốc bổ cho heo.
→ Như vậy để nuôi 1000 heo thịt chi phí thuốc thú y khoảng 180.000.000đ.
Ngoài ra trại cần thiết có 1 kỹ thuật, hiện nay trả lương cho 1 kỹ thuật khoảng 5.000.000đ/tháng. Một lứa heo khoảng 4 tháng → chi phí cho kỹ thuật 4 x 5.000.000 = 20.000.000đ.
Tổng chi phí thú y khoảng 180.000.000 + 20.000.000 = 200.000.000đ (3)
4. Chi phí nhân công
Với trại quy mô 1000 heo thịt cần 2 công nhân.
Lương trả cho 1 công nhân khoảng 3.000.000đ/tháng → 2 công nhân 6.000.000đ/tháng → 6.000.000 x 4 = 24.000.000đ (4)
5. Chi phí điện nước
Chi phí tiền điện nước để vận hành trại gồm có, điện thắp sáng, điện úm heo, điện chạy dàn mát, quạt . . . tất cả chi phí trên với trại kín quy mô 1000 heo thịt khoảng 5.000.000đ/tháng.
Một lứa heo nuôi khoảng gần 4 tháng, như vậy chi phí tiền điện hết khoảng 4x 5.000.000 = 20.000.000đ (5)
→ Tổng chi phí trong chăn nuôi heo thịt công nghiệp chưa tính tới hao phí chuông nuôi là: (1) + (2) + (3) + (4) + (5 ) = 3.800.000.000đ.
6. Tổng thu
Tiền thu từ bán heo: 100kg/1heo với giá hiện nay khoảng 50.000đ/kg. Với trại quy mô công nghiệp nuôi 1000 con tỷ lệ chết khoảng 5%.
Như vậy ta có thể tính thu từ việc bán heo như sau. (1000 x 95%) x 100 x 50.000 = 4.750.000.000đ
Hạch toán chăn nuôi lợn
Như vậy chăn nuôi heo thịt theo hướng công nghiệp, giảm chi phí và nâng cao hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi.
Với 1000 heo thịt, mỗi lứa tiền lời khoảng 4.750.000.000 – 3.800.000.000 = 950.000.000đ. Tuy nhiên trong bài viết này chúng tôi chưa tính tới khấu hao chuồng trại, rủi ro trong chăn nuôi, lãi ngân hàng khi huy động vốn và nhiều chi phí phát sinh khác.
Trong bài viết này tất cả các số liệu đều được tham khảo thực tế chăn nuôi tháng 12/2014. Khi áp dụng vào điều kiện chăn nuôi mỗi trang trại ta có số liệu chi phí tại mỗi thời điểm và mỗi trại là khác nhau vì vậy cần có sự thay đổi sao cho phù hợp với mỗi trại.
Việc chăn nuôi heo thịt theo hướng công nghiệp với chi phí cố định lớn nhưng hiệu quả kinh tế cao do thời gian chăn nuôi thấp khoảng hơn 3 tháng và giá heo bán được lớn hơn rất nhiều so với giá heo tại nông hộ (heo lai).Việc chuyển hướng sang sử dụng các giống heo ngoại (heo siêu) cho năng xuất cao đang được rất nhiều hộ chăn nuôi sử dụng đã mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Theo VietDVM

FAO dự báo sản lượng và giá thủy sản thế giới tới năm 2025

seafoodTheo Báo cáo năm 2016 của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO), dự báo đến năm 2021, sản lượng nuôi trồng thủy sản sẽ tăng vượt sản lượng khai thác. Giá thủy sản trong vài năm tới sẽ giảm vì kinh tế tăng trưởng chậm, tuy nhiên sẽ phục hồi vào 5 năm cuối của giai đoạn 2016 – 2025 vì dự đoán cầu sẽ vượt cung.

Sản lượng

Theo dự báo của FAO, đến năm 2015, tổng sản lượng thủy sản thế giới đạt 196 triệu tấn, tăng 17% so với giai đoạn 2013 – 2015, nhưng mức tăng trưởng chậm hơn so với thập kỷ trước (1,5% so với 2,5%). Về khối lượng tăng 29 triệu tấn so với mức trung bình năm 2013 – 2015.

Sản lượng tăng chủ yếu từ các nước đang phát triển, chiếm 85% trong năm 2015, tăng từ mức 83%. Thị trường mở rộng nhiều hơn ở châu Á, tỷ trọng trọng tổng sản lượng tăng từ 70% lên 73%. Trong số 29 triệu tấn sản lượng tăng lên, sẽ có 25 triệu tấn sản xuất ở châu Á, 1,8 triệu tấn ở Mỹ Latinh và Caribe, 1,6 triệu tấn ở châu Phi, 0,7 triệu tấn ở châu Âu và số còn lại ở châu Đại Dương và Bắc Mỹ. Khoảng 91% tổng sản lượng, khoảng 178 triệu tấn sẽ dùng cho tiêu thụ thực phẩm.

Nhu cầu tăng sẽ được bù đắp chủ yếu bằng tăng trưởng nguồn cung thủy sản nuôi trồng, dự kiến đạt 102 triệu tấn vào năm 2025, tăng 39% so với giai đoạn trước. Nuôi trồng thủy sản vẫn là một trong những lĩnh vực tăng trưởng nhanh nhất để sản xuất thức ăn chăn nuôi, mặc dù mức tăng trưởng hàng năm ước giảm từ 5,4% trong thập kỷ trước xuống 3% trong giai đoạn này. Tăng trưởng chậm chủ yếu là do nguồn cung giảm và chất lượng nước không tốt; sự cạnh tranh sử dụng các khu vực sản xuất tối ưu; nguồn cung con giống và thức ăn đảm bảo chất lượng và số lượng; không đủ đầu tư vào cơ sở hạ tầng ở các khu vực có nguồn tài nguyên thiên nhiên để sản xuất thủy sản nuôi; khó khăn về vốn; và thách thức trong quản trị và khung pháp lý. Ngoài ra, nếu giảm nhẹ, nhưng giá bột cá, dầu cá và các thức ăn khác vẫn cao sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến sản xuất (vì chỉ có khoảng 30% các loài không cần thức ăn đặc). Các nước đang phát triển vẫn giữ vai trò quan trong trong nuôi trồng thủy sản, chiếm 95% tổng sản lượng. Ước tính những nước này chiếm 96% phần sản lượng tăng lên trong giai đoạn này.

Tuy nhiên, sản lượng nuôi trồng thủy sản có thể tiếp tục tăng ở các nước phát triển (tăng 26% trong thập kỷ tới) ở tất cả các lục địa, với mức độ tăng khác nhau ở từng khu vực, từng nước và từng loài. Các nước châu Á vẫn là những nước sản xuất chính, chiếm 89% tổng sản lượng trong năm 2025, riêng Trung Quốc chiếm 62% tổng sản lượng của thế giới. Sản lượng cũng tăng ở Mỹ Latinh, nhất là Brazil (dự kiến tăng 104%) do có chiến dịch đầu tư lớn cho ngành này. Sản lượng ở châu Phi dự kiến tăng 35% đạt 2,3 triệu tấn, một phần nhờ tăng công suất trong những năm gần đây, một phần nhờ nhu cầu trong nước tăng khi kinh tế tăng trưởng và nhờ chính sách khuyến khích nuôi trồng thủy sản ở trong nước.

Các loài nuôi nước ngọt như cá chép, cá da trơn (bao gồm cá tra) và cá rô phi sẽ chiếm phần lớn mức tăng sản lượng nuôi trồng, chiếm khoảng 60% tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản vào năm 2025. Sản lượng các loài có giá trị cao hơn như tôm, cá hồi salmon và trout dự kiến tiếp tục tăng trong thập kỷ tới.

Tỷ trọng của thủy sản nuôi trồng trong tổng sản lượng thủy sản sẽ tăng từ 44% trong giai đoạn 2013 – 2015 đến 52% trong năm 2025 và sẽ vượt tỷ trọng của thủy sản khai thác từ năm 2021. Sự phát triển này mở ra một kỷ nguyên mới cho thấy nuôi trồng thuỷ sản ngày càng chi phối sự thay đổi của ngành thủy sản. Tuy nhiên, ngành khai thác vẫn giữ vị trí quan trọng đối với một số loài và có ý nghĩa đối với an ninh lương thực quốc tế và nội địa. Sản lượng thủy sản khai thác dự kiến tăng 1% đạt 94 triệu tấn vào năm 2025. Mức tăng nhẹ này có nhiều nguyên nhân: như phụ thuộc vào tiến trình đạt mục tiêu SDH, bao gồm: phục hồi trữ lượng một số loài sau khi một số nước cải thiện cơ chế quản lý, một số nước không bị áp hạn ngạch sản lượng vẫn tăng khai thác; giá xăng dầu giảm, và tăng hiệu quả tận dụng sản lượng qua việc giảm lãng phí cá vụn, chất thải và thất thoát theo quy định và do tác động từ giá thủy sản tăng (trong đó có giá bột cá và dầu cá). Ở giai đoạn đầu của thập kỷ tới, sản lượng khai thác sẽ không tăng nhiều do ảnh hưởng của thời tiết El Nino đối với khu vực Nam Mỹ. Trong 10 năm tới, hiện tượng thời tiết này sẽ làm giảm 2% sản lượng khai thác của thế giới, tác động nhiều hơn đối với sản lượng cá cơm của Peru và Chile.

Đến năm 2025, tỷ lệ sản lượng thủy sản khai thác được để sản xuất bột cá sẽ khoảng 16%, thấp hơn 1% so với giai đoạn trước. Nguyên nhân do nhu cầu thủy sản làm thực phẩm tăng đối với những loài trước kia dùng làm bột cá, dầu cá; nguồn nguyên liệu khan hiếm hơn và ngày càng sử dụng nhiều phụ phẩm để sản xuất bột cá. Tỷ lệ sản lượng khai thác dùng sản xuất bột cá và dầu cá sẽ giảm nhẹ trong những năm đầu khi có hiện tượng thời tiết El Nino do sản lượng đánh bắt cá cơm giảm. Tới năm 2025, sản lượng bột cá và dầu cá có thể đạt 5,1 triệu tấn và 1,0 triệu tấn. Sản lượng bột cá sẽ tăng 15% so với mức trung bình của những năm 2013 – 15, nhưng khoảng 96% mức tăng được sản xuất từ cá vụn, phụ phẩm từ cá chế biến. Vì ngày càng nhiều sản lượng cá để dành cho việc chế biến phile và các dạng chế biến khác nên tỷ lệ phụ phẩm như đầu, đuôi, xương và nội tạng sau chế biến sẽ tăng lên, được đưa vào để sản xuất bột cá và dầu cá. Bột cá sản xuất từ phụ phẩm chế biến cá sẽ chiếm 38% sản lượng bột cá thế giới trong năm 2025, so với 29% trong giai đoạn 2013 – 15. Sử dụng phụ phẩm từ chế biến cá có thể ảnh hưởng đến thành phần và chất lượng bột cá và dầu cá: ít đạm hơn, nhiều khoáng chất và tăng axit amino (như glycine, proline, hydroxyproline) hơn so với sản phẩm chế biến từ cá nguyên con. Đây có thể là nguyên nhân làm giảm tiêu thụ bột cá và dầu cá trong thức ăn nuôi thủy sản và gia súc. Tuy nhiên, sự thay đổi này không đáng kể.

Giá

Năm 2015, giá trung bình thủy sản thấp hơn so với năm 2014. Dự kiến trong thập kỷ tới, các yếu tố chính tác động đến giá thủy sản thế giới sẽ là: thu nhập, mức tăng dân số và giá thịt, xét về khía cạnh nhu cầu; sản lượng khai thác tăng ít, giá thức ăn nuôi thủy sản, điện và xăng, dầu…xét về khía cạnh cung. Về danh nghĩa, giá thủy sản dự kiến tiếp tục giảm trong giai đoạn đầu do tăng trường kinh tế chậm hơn, nhu cầu giảm ở một số thị trường chính và chi phí đầu vào giảm. Tuy nhiên, trong 5 năm cuối của giai đoạn này, giá sẽ ổn định và tăng nhẹ, sau đó sẽ giữ ở mức cao vào cuối giai đoạn. Tới năm 2025, giá sản xuất trung bình dự kiến tăng nhự so với giai đoạn 2013 – 15 vì nhu cầu sẽ vượt cung. Tuy nhiên giá trung bình thủy sản tiêu thụ làm thực phẩm, giá dầu cá và bột cá sẽ giảm chút so với mức đỉnh 2014 nhưng vẫn khá cao.

Thủy sản khai thác vẫn bị hạn chế hạn ngạch, trong khi nhu cầu một số loài vẫn ổn định, do vậy dự kiến tới năm 2015, giá trung bình thủy sản khai thác (bao gồm cá làm bột cá, dầu cá) sẽ tăng mạnh hơn giá thủy sản nuôi (tăng 7% so với thủy sản nuôi là 2%) so với giai đoạn 2013 – 15 và mức tăng trung bình hàng năm tương ứng là 1% và 0,8%. Tuy nhiên nhìn chung giá thủy sản khai thác vẫn thấp hơn thủy sản nuôi, có thể do tỷ lệ cá khai thác giá trị thấp cao hơn. Giá thủy sản nuôi tăng ít hơn một phần do giá thức giảm sau khi tăng kỷ lục vào những năm 2011 – 12 và do hệ số chuyển đổi thức ăn cao hơn và năng suất cao hơn (dù vẫn thấp hơn so với những thập kỷ trước nữa). Giá thực tế thủy sản khai thác và thủy sản nuôi dự kiến đều giảm 13% và 17% trong giai đoạn này.

Giá bột cá đã tăng mạnh từ năm 2006 đến 2013 đạt tới 1.747 USD/tấn vào năm 2013. Sau đó, dù đã giảm nhẹ nhưng giá vẫn cao. Đến năm 2025, giá trung bình bột cá dự kiến giảm 14% về danh nghĩa và giá thực tế giảm 30%. Riêng những năm có hiện tương El Nino sản lượng khai thác ở Nam Mỹ giảm, chủ yếu là cá cơm, sẽ làm giảm sản lượng bột cá và dầu cá. Từ mức cao đỉnh điểm, giá dầu cá dự kiến giảm trong giai đoạn 2016 – 2025, nhưng vẫn cao hơn so với giá bột cá. Giá danh nghĩa trung bình dầu cá dự kiến giảm 3% và thực tế sẽ giảm 21%.

Giá tiêu thụ thủy sản cũng sẽ giảm trong giai đoạn tới, với mức giảm danh nghĩa 5% và giảm thực tế 25%. Các yếu tố chính tác động giảm là giá cạnh tranh của các sản phẩm thay thế, nhất là thịt gà, nhu cầu của các thị trường giảm do tăng trưởng kinh tế chậm, giá sản xuất và bán các sản phẩm nuôi giảm vì chi phí vận chuyển và thức ăn hạ.

Nhờ thuế NK ở mức tối thiểu hoặc mức thấp ở những nước phát triển nên thương mại thủy sản quốc tế vẫn khá tự do và sự biến động giá có thể tác động từ thị trường này sang thị trường khác. Tuy nhiên, ở nhiều nước đang phát triển, thuế NK và giấy phép NK vẫn là vấn đề. Biến động giá trên thị trường quốc tế sẽ có hiệu ứng lan tỏa đối với cả các loài không giao dịch thương mại nhiều.

Đối với từng loài, biến động giá có thể rõ rệt hơn do sự thay đổi nguồn cung trước những điều chỉnh đáng kể về hạn ngạch khai thác và dịch bệnh đối với thủy sản nuôi, cũng như biến động giá thức ăn nuôi.

Nguồn: Vasep

Phát triển thực phẩm sạch: Cần những chính sách cụ thể

Chuyển từ kiểu tự cung tự cấp sang phát triển mang tính hàng hóa, số lượng lớn, chất lượng đồng đều, người chăn nuôi Việt Nam còn phải đối mặt với bài toán cung ứng sản phẩm “sạch” với giá cả phù hợp. Nhiều cơ sở chạy theo lợi nhuận, sản xuất bất chấp tiêu chuẩn vệ sinh an toàn, thay vì xây dựng một nền chăn nuôi vững chắc và khoa học.

Ám ảnh ngộ độc

Thống kế cho thấy, năm 2013 cả nước có 167 vụ ngộ độc thực phẩm, 5.558 người bị ngộ độc, 28 người chết. Năm 2014 có 194 vụ, 5.203 người ngộ độc, 43 người chết. Năm 2015, 171 vụ, 4.965 người mắc và 23 trường hợp tử vong. Như vậy, ngộ độc thực phẩm không chỉ là hồi chuông báo động mà đang là hồi chuông báo tử.

Tính toán cũng cho thấy, chi phí mà xã hội bỏ ra không nhỏ để xử lý ngộ độc thực phẩm, đơn cử tiền thuốc men và viện phí cho mỗi nạn nhân ngộ độc do vi sinh vật chừng 300.000 – 500.000 đồng, ngộ độc do hóa chất (thuốc trừ sâu, phẩm màu…) 3 – 5 triệu đồng.

Phân loại nguyên nhân thì ngộ độc thực phẩm do nhiễm vi sinh vật chiếm tới 33 – 49%; vi khuẩn Salmonella là thủ phạm của 70% vụ; ô nhiễm hóa chất chiếm 11 – 27% và 27% số vụ do ăn phải thực phẩm tồn đọng hóa chất.

Chậm trễ trong giết mổ công nghiệp

Thực trạng giết mổ gia súc, gia cầm lạc hậu trở thành vấn đề nan giải hiện nay. Việc giết mổ thường diễn ra vào ban đêm, với khoảng thời gian ngắn, thiếu nhân lực, thiếu mặt bằng… Chưa kể, phương tiện vận chuyển heo, gà mới mổ chủ yếu là những chiếc xe máy cà tàng chạy khắp làng quê, thành thị, bất kể trời nắng, mưa hay khói bụi.

Việc xây dựng các điểm giết mổ công nghiệp sẽ giúp người chăn nuôi ý thức được quy trình nuôi sạch. Ngoài ra, các cơ sở này cũng góp phần quản lý sản phẩm “đầu vào” nguyên liệu, bằng cách khuyến khích sản phẩm sạch theo nguyên tắc “nước chảy chỗ trũng”. Đáng tiếc là cả nước có tới 28.285 điểm giết mổ gia súc, gia cầm nhỏ lẻ, trong khi chỉ 59 cơ sở giết mổ tập trung (chiếm 0,51%).

Thực trạng này được lý giải là do một số điểm giết mổ tập trung được đầu tư quy mô nhưng lại rơi vào tình trạng “khan hiếm nguyên liệu” do lượng gia súc, gia cầm cung ứng có nơi chỉ đạt 5% công suất. Còn người chăn nuôi cho rằng, việc bán sản phẩm cho thương lái và các lò mổ nhỏ lẻ thuận tiện lại giảm chi phí.

Quản lý lỏng lẻo

Người tiêu dùng vẫn quan niệm “Việc quản lý vệ sinh môi trường trước hết là quản lý từ gốc, tức là từ hộ chăn nuôi”. Nhưng từ trước đến nay, việc quản lý thường diễn ra ở các chợ, khi sản phẩm đã được giết mổ xong và trang thiết bị kiểm định lại thiếu thốn. Lâu nay, đa phần cơ quan chức năng tập trung vào lĩnh vực khuyến nông, còn việc quản lý thậm chí xử phạt hành chính về an toàn vệ sinh thực phẩm ngay tại các làng xã là rất khó khăn.

Các nhà làm chuyên môn và quản lý cho rằng, để người chăn nuôi không sử dụng chất tạo nạc thì phải cần nhiều ngân sách truyên truyền đến tận người dân. Cần có lực lượng cán bộ đông đảo hơn. Song nếu cứ chăn nuôi nhỏ lẻ thì số lượng cán bộ chức năng sẽ phình ra ngày càng nhiều. Giải pháp để phát triển bền vững là xây dựng ngành chăn nuôi tập trung, quy hoạch vùng, hạn chế thiệt hại do dịch bệnh gây ra, tạo nên những sản phẩm chăn nuôi có giá trị cao và được kiểm định thường xuyên chất lượng sản phẩm. Song vấn đề đầu ra lại đang gặp khá nhiều khó khăn đối với các vùng nuôi tập trung.

Liên kết chuỗi và thương hiệu

Khó khăn cho người tiêu dùng là không phân biệt được đâu là sản phẩm sạch trên thị trường. Giải quyết vấn đề này, các công ty cũng đã và đang xây dựng những mô hình liên kết chuỗi, truy xuất nguồn gốc.

xây dựng các điểm giết mổ công nghiệp - chăn nuôi

Xây dựng các điểm giết mổ công nghiệp góp phần phát triển thực phẩm sạch

Công ty CP Chăn nuôi C.P Việt Nam đã phát triển sản phẩm “Five Star” với mô hình hợp tác kinh doanh tại 9 quốc gia như: Thái Lan, Bangladesh, Campuchia, Ấn Độ, Myanmar, Malaysia… Sản phẩm chính của Five Star là gà rán và xiên que, sử dụng nguyên liệu gà tươi của đơn vị này với quy trình sản xuất khép kín từ con giống, chăn nuôi cho đến thành phẩm trên bàn ăn. Đây là một hướng đi hiện đại của các công ty cung ứng thực phẩm. Với các trang trại Việt Nam, việc liên kết chuỗi cũng đã được chú ý hơn trước kia và giúp nhiều doanh nghiệp thành công.

Bài toán giá thành

Các sản phẩm “sạch” hiện vẫn còn ở mức giá cao so với mặt bằng chung là vấn đề không chỉ riêng đối với Việt Nam. Chẳng hạn, giá thịt heo được chăn nuôi theo quy trình hiện đại bền vững, không sử dụng kháng sinh, hóa chất ở Singapore đắt hơn gấp 4 lần so với sản phẩm cùng loại mà ngành chăn nuôi Việt Nam cung cấp cho thị trường.

Hiện đã có trên 100 trang trại chăn nuôi lớn và hơn 9.000 hộ chăn nuôi đã được công nhận đạt tiêu chuẩn VietGAP. Dự án Cạnh tranh ngành chăn nuôi và an toàn thực phẩm (LIFSAP) do Ngân hàng Thế giới tài trợ với tổng vốn lên tới 79,03 triệu USD triển khai trên 12 tỉnh, thành phố của cả nước. Song việc sản xuất cũng cầm chừng. Giá thành sản xuất sản phẩm sạch theo hướng hiện đại có chi phí  cao hơn sản phẩm nuôi công nghiệp trước đây 2.000 – 4.000 đồng/kg.

Thực tế là rất nhiều cửa hàng bán thực phẩm sạch mà chúng tôi tiếp cận chỉ sau thời gian ngắn đã phải đóng cửa vì vắng khách. Những cửa hàng vốn bán thực phẩm thường đang đông khách, khi chuyển sang bản thực phẩm sạch thì khách hàng giảm mạnh và thua lỗ nặng.

Nhiều chủ cửa hàng và các siêu thị cho rằng nhà nước nên có chính sách thiết thực phát triển các sản phẩm sạch, bằng cách có chính sách ưu đãi thuế, chính sách hỗ trợ về giá… tạo sức hút ban đầu đối với người dân khi sử dụng các sản phẩm VietGAP, các sản phẩm sạch của bà con nông dân.

>> Bên cạnh việc thay đổi nhận thức tiêu dùng của người dân hướng sang sản phẩm sạch, nói “không” với thực phẩm không an toàn, thì vấn đề của ngành chăn nuôi là phải cung cấp sản phẩm sạch ở mức giá có sức cạnh tranh tốt. Người nội trợ đánh giá, sản phẩm sạch hiện đắt hơn 2 – 3 lần thực phẩm bán trên thị trường nói chung.          

Nguồn: Nguoichannuoi

Nuôi vịt chạy đồng ‘một vốn, bốn lời’

Đã nhiều năm nay, nông dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An phát triển nghề nuôi vịt chạy đồng, theo các vụ lúa trong năm. Nghề này không những giảm được chi phí đầu tư, nâng cao hiệu quả kinh tế mà còn cung cấp nguồn thực phẩm sạch cho thị trường.

Vào vụ thu hoạch, nông dân Yên Thành bắt đầu thả vịt ra đồng để tìm kiếm thức ăn tự nhiên từ các cánh đồng lúa.

Vào vụ thu hoạch, nông dân Yên Thành bắt đầu thả vịt ra đồng để tìm kiếm thức ăn tự nhiên từ các cánh đồng lúa.

Đã nhiều năm nay, anh Trần Quang Giang (xóm 9, xã Xuân Thành) đầu tư phát triển chăn nuôi vịt chạy đồng. Khi cây lúa bắt đầu trổ bông, cũng là thời điểm anh nuôi vịt. Theo kinh nghiệm, anh đặc biệt chú trọng chăm sóc đàn vịt giai đoạn vịt con mới nở, chưa đủ sức để tìm mồi. Thức ăn cho vịt giai đoạn này chủ yếu là cám gạo và cám ngô trộn lẫn với cua, ốc bằm nhỏ, để đảm bảo đủ chất dinh dưỡng. Vịt chạy đồng sống trong môi trường tự nhiên nên trong 25 ngày đầu, vịt được tiêm các mũi phòng dịch bệnh.

Vào vụ thu hoạch lúa, anh sẽ thả vịt ra đồng để ăn những hạt thóc rơi vãi và tìm kiếm các loại mồi tự nhiên.Trung bình mỗi vụ, anh Giang nuôi trên 2.000 con vịt, chỉ sau 2 tháng chăn thả, vịt có trọng lượng từ 1,8-2 kg/con.

Riêng vụ hè thu năm nay, gia đình anh đã đầu tư 60 triệu đồng để nuôi 2.500 con vịt chạy đồng, dự kiến khoảng hơn 1 tháng nữa sẽ xuất bán 5 tấn vịt thương phẩm. Với giá thị trường hiện nay 35 ngàn đồng/kg, gia đình anh sẽ thu về khoảng 170 triệu đồng, trừ chi phí đầu tư ban đầu, sẽ đưa lại một nguồn lãi cao chỉ trong khoảng thời gian ngắn.

Với tiềm năng lợi thế của một huyện nông nghiệp, có trên 13 ngàn ha canh tác, mỗi năm sản xuất 2 vụ lúa và có gần 2.000 ha ao hồ mặt nước, chưa kể hệ thống sông ngòi, kênh rạch… nghề nuôi vịt chạy đồng đã trở thành nghề truyền thống của nông dân Yên Thành.

Vịt nuôi chạy đồng thường là giống vịt cỏ địa phương hoặc vịt lai nên có sức đề kháng cao và rất nhanh nhẹn. Do vận động nhiều nên vịt trọng lượng của vịt chạy đồng không lớn như một số giống vịt khác nhưng thịt lại săn chắc, thơm ngon và giàu chất dinh dưỡng. Vịt chạy đồng là nguồn thực phẩm sạch, hiện rất được thị trường ưa chuộng nên đầu ra luôn ổn định.

Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của nhiều hộ dân, nuôi vịt chạy đồng không phải năm nào cũng thuận lợi. Do vịt kiếm ăn từ các cánh đồng trải dài nên thường bị hao hụt tổng đàn. Mặc dù, từ khi con giống nuôi thả đã được phòng dịch nhưng dịp thời tiết nắng, mưa thất thường, vịt chạy trên đồng thường dễ mắc bệnh. Do đó, người nuôi phải thường xuyên trông coi, để có biện pháp chăn nuôi và phòng dịch phù hợp.

Hiện nay, trên địa bàn huyện Yên Thành, ngoài 200 nghìn con vịt gốc đang được nuôi nhốt để cung cấp con giống và trứng thương phẩm, mỗi mùa vụ còn có khoảng 400 nghìn con vịt được nuôi thả trên đồng ruộng. Nhiều hộ có điều kiện kinh tế và lao động thường nuôi từ 3 – 4 nghìn vịt chạy đồng, chủ yếu được cung cấp bằng nhiều nguồn thức ăn tự nhiên sẵn có trên đồng ruộng nên vịt nhanh lớn, chỉ sau 2 tháng vịt sẽ đủ tiêu chuẩn để xuất bán, giảm được nhiều chi phí đối với người chăn nuôi.

Nghề chăn nuôi vịt chạy đồng ở huyện lúa Yên Thành đang trở thành nghề cho thu nhập ổn định, góp phần giải quyết việc làm và làm giàu chính đáng cho người nông dân.

Nguồn: Báo Nghệ An

Tìm hiểu tính khả thi phát triển nuôi cá ngừ

Mô hình nuôi cá Ngừ

Mô hình nuôi cá Ngừ

Ông Kunihiro Igari – Chuyên gia nuôi trồng của Công ty Try-Tokyo đánh giá rất cao tiềm năng phát triển nuôi cá ngừ tại vịnh Vân Phong và vịnh Cam Ranh (Khánh Hòa). Với điều kiện tự nhiên tuyệt vời, sự hỗ trợ lớn về chính sách phát triển nuôi biển tại địa phương… đang thu hút Tập đoàn Sojitz – Tập đoàn lớn thứ 2 về nuôi trồng, chế biến, thương mại cá ngừ tại Nhật Bản xem xét đầu tư tại đây.

Từ ngày 15-16/3/2012, đoàn công tác của Tập đoàn Sojitz, Viện Nghiên cứu Hải sản, VASEP và đại diện một số DN XK thủy sản Việt Nam đã tổ chức một chuyến đi tìm hiểu việc phát triển nuôi cá ngừ của Công ty TNHH Minh Chi tại vịnh Vân Phong và trại nuôi của Viện Nghiên cứu Hải sản tại Cam Ranh (Khánh Hoà).

Ths. Bùi Quang Mạnh – Phó Phòng Nguồn lợi Môi trường, Phân viện Nghiên cứu Hải sản phía Nam cho biết, hiện nay, Viện Nghiên cứu Hải sản đang hợp tác với Công ty 128 Hải Quân tiến hành thử nghiệm nuôi cá ngừ thương phẩm tại Vịnh Cam Ranh. Ngoài ra, Viện đã phối hợp với Công ty TNHH Minh Chi đầu tư nuôi thử nghiệm 12 lồng cá ngừ đại dương trên diện tích 30ha tại vịnh Vân Phong.

Nuôi thành công hơn 120 con cá ngừ thương phẩm, với trọng lượng trung bình từ 25-40 kg/con, tốc độ tăng trưởng 2-2,5kg/tháng, theo ông Mạnh, vừa nuôi, rút kinh nghiệm nhưng Đề án này được đánh giá khả năng thành công cao. Có thể nói, đây là bước tìm hiểu đầu cho Đề án nghiên cứu sinh sản nhân tạo cá ngừ của Viện Nghiên cứu Hải sản, tạo tiền đề cho phát triển nuôi cá ngừ tại Việt Nam.

Còn ông Kunihiro Igari cho rằng, điều kiện tự nhiên thuận lợi tại hai vịnh Vân Phong và Cam Ranh rất tốt cho phát triển nuôi cá ngừ. Do đó, kỹ thuật nuôi không phải là vấn đề lớn. Tuy nhiên, hiện nay, Việt Nam vẫn chưa có đội tàu công nghệ hiện đại, công suất không đủ lớn để bắt giống cá từ 15-20kg cho nuôi lên thương phẩm. Hơn nữa, do chưa thành công trong việc sản xuất giống nhân tạo, nguồn giống hoàn toàn phụ thuộc vào tự nhiên nên đây là băn khoăn lớn nhất của việc triển khai mô hình nuôi cá ngừ đại dương tại Việt Nam.

Tập đoàn Sojitz cần thêm các dữ liệu thống kê về các đội tàu đánh bắt xa bờ và nghiên cứu sâu hơn về việc săn bắt cá ngừ giống… phục vụ cho nuôi trồng quy mô lớn. Tập đoàn này đang chờ các phản hồi, sự quan tâm, vào cuộc của các DN XK hải sản Việt Nam.

Mô hình nuôi cá Ngừ

Mô hình nuôi cá Ngừ

Phát triển nuôi biển đang là một trong những hướng đi nhằm khắc phục tình trạng thiếu nguyên liệu hải sản cho chế biến, XK. Do vậy, một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Ủy ban Hải sản VASEP trong năm 2012 là tìm kiếm thông tin, tổ chức làm việc với các đơn vị để hỗ trợ sản xuất cho các DN XK hải sản. Trước chuyến khảo sát này, VASEP đã cùng đại diện Công ty TNHH Sojitz Việt Nam, một số DN XK hải sản tới làm việc với Viện Nghiên cứu Hải sản về Đề án phát triển nuôi cá ngừ tại Việt Nam.

Nguồn: Vasep
%d bloggers like this: