Bột Cá Biển

Cơ sở sản xuất bột cá Nguyễn Thị Sậu cung cấp bột cá biển (Cá Ngừ) 55 đạm, không pha tạp chất. Tel: 0966 245 345

Category Archives: Dầu cá

GlobalGAP yêu cầu phát triển bền vững nguồn bột cá và dầu cá

Sau khi tham khảo tư vấn của nhiều đối tượng trong ngành thủy sản, GlobalGAP đã kết thúc việc điều chỉnh các tiêu chuẩn sản xuất thức ăn thủy sản hỗn hợp. Yêu cầu sửa đổi tiêu chuẩn phiên bản 2.0, công bố năm 2010, đã được nhiều nhóm đối tượng đề xuất, bao gồm các nhà bán lẻ, các tổ chức chứng nhận, tổ chức phi chính phủ và các đại diện của ngành sản xuất thức ăn thủy sản.

Mẫu bột cá Ngừ độ đạm (55%), độ ẩm (10%)

Mẫu bột cá Ngừ độ đạm (55%), độ ẩm (10%)

Các ý kiến đề xuất này đã được Ủy ban Kỹ thuật về Chăn nuôi và Nuôi trồng thủy sản GlobalGAP thảo luận và thẩm định, sau đó được đưa ra lấy ý kiến cộng đồng.

Cụ thể, sẽ có thêm một mục mới có tên “Sử dụng có trách nhiệm nguồn lợi tự nhiên”, bao gồm 5 điểm kiểm soát với các tiêu chí tuân thủ chặt chẽ. GlobalGAP yêu cầu tìm hiểu về các giải pháp tích cực nhất để bảo vệ hệ sinh thái biển. Thông qua công tác nghiên cứu của Nhóm công tác kỹ thuật quốc gia Na Uy, GlobalGAP đã đưa ra các giải pháp mang tính thách thức và hiện đại cho vấn đề này. Hiện GlobalGAP đã bổ sung các tiêu chí về nguồn bột cá và dầu cá bền vững sử dụng để sản xuất thức ăn tổng hợp cho thủy sản nuôi và các loài động vật dạ dày đơn.

Phiên bản 2.1 đã được công bố từ tháng 12/2011, bắt đầu có hiệu lực từ tháng 1/2012 và sẽ bắt buộc thực hiện từ tháng 6/2012.

Nguồn: Vasep

Advertisements

QUY TRÌNH CHẾ BIẾN BỘT CÁ VÀ DẦU CÁ CƠ BẢN

Sơ đồ quy trình chế biến bột cá

Sơ đồ quy trình chế biến bột cá

Về nguyên tắc, quá trình sản xuất bột cá và dầu cá chỉ đơn giản hàm ý sự tách tốt nhất có thể của 3 thành phần chính tự nhiên của nguyên liệu:

– Phần dầu
– Phần rắn
– Phần nước

Thành phần đặc trưng của loại cá công nghiệp như cá mòi nạc (lean sardine), gồm 6% dầu, 18% chất rắn và 76% nước. Sản lượng sản xuất trung bình ước tính từ nguyên liệu này bằng cách xử lý thông thường là 21,9% bột và 4% dầu. Do đó, cho mỗi tấn nguyênliệu, 219 kg bột và 40 kg dầu được chiết xuất bằng sự kết hợp của các công nghệ khử dầu và khử nước cơ học và nhiệt. Cần phải nhấn mạnh rằng sản lượng tốt nhất có thể, bên cạnh việc quan trọng cho tính khả thi tổng thể, là rất quan trọng trong việc ngăn chặn ô nhiễm bởi nồng độ chất béo và chất rắn trong chất thải. Với quan điểm này, nguyên liệu chất lượng cao đóng một vai trò quan trọng. Điều này có tầm quan trọng cao nhất trong việc lập kế hoạch cung cấp, xử lý và các phương tiện lưu trữ và bảo quản nguyên liệu.

Bản cân bằng khối lượng kèm theo cho thấy một hệ thống xử lý chế biến bột cá và dầu cá thông thường, dựa trên khái niệm thu hồi hoàn toàn. Từ bảo quản bên ngoài, nguyên liệu được cấp vào lò nấu để gia nhiệt gián tiếp và làm đông các protein. Mặc dù được xem như một bước xử lý không cao, đây là bước quan trọng nhất trong toàn bộ quá trình khử nước.

Bước tiếp theo, sau khi lọc sơ bộ trung gian nguyên liệu đông, sự khử nước cơ học, thường được tiến hành bởi các máy ép vít đôi quay chậm. Phần rắn từ máy ép vít đôi này được chuyển trực tiếp đến giai đoạn nhiệt cuối, (các) máy sấy. Phần chất lỏng cùng với chất lỏng từ bộ lọc sơ bộ, được tiếp tục tách trong các bước khác nhau của các máy ly tâm.

Bộ lọc sơ bộ và máy ép chất lỏng có chứa các nguyên liệu rắn lơ lửng và hòa tan, ngoài dầu. Các chất rắn lơ lửng bị loại bỏ khỏi chất lỏng này bởi một máy ly tâm lắng gạn và được trộn với phần rắn từ một máy ép vít trước giai đoạn sấy khô.

Bước tiếp theo là khử dầu của máy lắng gạn chất lỏng. Bước này được tiến hành bởi các máy tách ly tâm tốc độ cao trong một, hai hoặc ba bước tùy thuộc vào nguyên liệu và các điều kiện xử lý. (Các) phần dầu cuối cùng được làm nguội để bảo quản với nhiệt độ dưới 40°C.

Phần nước từ máy tách chính vẫn chứa khoảng 10% chất rắn hòa tan. Phần chất lỏng này, nước dịch ép, được cô đặc trong một máy bay hơn đa tác động lên đến khoảng 35% hàm lượng chất rắn, trước khi được trộn với bã ép và bùn lắng gạn trước khi sấy.

Quá trình sấy khô thường được xem như phần khó nhất của quy trình. Các giải pháp công nghệ ở giai đoạn này thực sự là yếu tố phân biệt giữa các nhà sản xuất chất lượng cao và chất lượng thấp. Ngày nay, các máy sấy bằng lửa trực tiếp đời cũ đang dần biến mất. Các loại máy chiếm ưu thế hiện nay là các máy sấy hơi gián tiếp và/ hoặc không khí nóng trực tiếp hay các máy sấy chân không (hơi nước quá nhiệt). Trong các hệ thống công suất lớn, các máy sấy hơi nước thường được sử dụng như các máy sấy sơ bộ kết hợp với các máy sấy không khí nóng/ không có không khí như giai đoạn cuối. Sự kết hợp này cho phép giảm năng lượng tiêu thụ và mang lại chất lượng cao cho sản phẩm bột cá.

Sự tiêu thụ năng lượng điển hình từ một quy trình với cấu hình máy sấy theo mẻ như vậy là khoảng 35 kg dầu nhiên liệu trên mỗi tấn nguyên liệu. Về lượng điện tiêu thụ điển hình, mức trung bình là khoảng 30 – 40 kWh trên mỗi tấn nguyên liệu.

ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG

Sản phẩm bột cá ngừ và dầu cá ngừ thô của chúng tôi phải trải qua các cuộc kiểm tra chất lượng cùng với phân tích phòng lab theo từng lô hàng xuyên suốt cả quá trình sản xuất.

Thành phẩm được lấy mẫu thường xuyên để kiểm nghiệm ngoại quan và cảm quan. Vệ sinh nhà máy được kiểm soát chặt chẽ cùng với một chương trình vệ sinh toàn bộ dây chuyền mỗi ngày.

Giá bột cá có thể tăng 43% năm 2020

Giá dầu cá cũng có thể tăng 19% lên 1.382 USD/tấn trong khi giá cá nuôi có thể tăng 50% lên 2.825 USD/tấn.

Mẫu bột độ đạm (55%), độ ẩm (10%)

Mẫu bột cá Dương Quang có độ đạm (55%), độ ẩm (10%)

Theo báo cáo Triển vọng Nông nghiệp thế giới năm 2011 do Tổ chức Nông Lương Liên Hợp Quốc (FAO) và Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) biên soạn, giá bột cá năm 2020 có khả năng tăng 43%, đạt 1.940 USD/tấn so với mức giá trung bình 1.355 USD/tấn trong giai đoạn từ 2008 đến 2010.

Năm 2020, giá dầu cá cũng có thể tăng 19% lên 1.382 USD/tấn trong khi giá cá nuôi có thể tăng 50% lên 2.825 USD/tấn.

Ông Audun Lem, một trong các tác giả của báo cáo đồng thời là chuyên viên cao cấp về tiếp thị nghề cá của FAO cho biết, đây là lần đầu tiên các số liệu nghề cá được đưa vào báo cáo do số liệu trước đây về nghề cá không đồng bộ.

Việc đưa số liệu nghề cá vào báo cáo làm rõ hơn phạm vi liên kết của các lĩnh vực khác nhau như gia cầm, thủy sản khai thác, thủy sản nuôi và ngũ cốc. Các dự báo nghề cá trong báo cáo chỉ ra mọi mối liên kết từ thủy sản khai thác tới tiêu dùng và giá thịt gà.

Ví dụ, dự báo nguồn cung bột cá và dầu cá vẫn ổn định nhưng giá sẽ tăng do nhu cầu bột cá trong nuôi trồng thủy sản và chăn nuôi đang tăng và dầu cá sẽ phục vụ trực tiếp cho người tiêu dùng. Điều này sẽ làm tăng chi phí và giá sản phẩm thủy sản nuôi. Mặt khác, lĩnh vực nuôi trồng thủy sản có khả năng tăng năng suất và sản lượng nên sẽ kéo chi phí xuống thấp.

Theo những dự báo của FAO và OECD, giá thủy sản nuôi có khả năng tăng mạnh hơn giá thủy sản khai thác. Giá thủy sản khai thác dự kiến chỉ tăng 23%, lên 1.223 USD/tấn năm 2020. Điều này là do những thay đổi sắp tới trong cơ cấu nghề cá, với việc khai thác nhiều hơn các loài cá có giá trị thấp hơn. Xu hướng này vừa mới bắt đầu vì đầu năm nay, các sản phẩm thủy sản nuôi đắt hơn 23% so với hồi tháng 9/2008.

Báo cáo cũng dự báo nuôi trồng thủy sản vẫn là một trong những lĩnh vực tăng trưởng nhanh nhất so với các hệ thống sản xuất thực phẩm khác, với tổng sản lượng đạt 73,6 triệu tấn năm 2020, trừ rong biển (chiếm gần 20 triệu tấn năm 2009).

Tuy vậy, tăng trưởng nuôi trồng thủy sản dự kiến giảm đáng kể từ 5,6% trong giai đoạn 2008 – 2010 xuống mức 2,8% hàng năm.

Sự suy giảm sản lượng thủy sản nuôi là do thực tế sản lượng thủy sản nuôi lúc đầu nhỏ nên tốc độ tăng trưởng ban đầu cao hơn. Tuy nhiên các vùng nước và diện tích nuôi ngày càng hạn chế cũng như những vấn đề mâu thuẫn giữa người sử dụng với các ngành khác. Giá và chi phí cao hơn cũng sẽ gây áp lực tới nhu cầu ở một số thị trường.

Dự báo tăng trưởng sản lượng nuôi trồng thủy sản ở một số khu vực như EU và Bắc Mỹ giảm.

Lượng thủy sản nuôi trong tổng sản lượng thủy sản tiêu dùng dự báo sẽ tăng đều từ 47% trong giai đoạn 2008 – 2010 lên 51% năm 2015 và 54% năm 2020.

Theo Vasep

Bột cá, dầu cá không hạn chế NTTS bền vững

Mặc dù có không ít dự báo về những nguy cơ khi sử dụng bột cá và dầu cá trong NTTS, nhưng nhiều bằng chứng lại cho thấy mặc dù sản lượng bột cá và dầu cá không hê tăng, nhưng giá của chúng vẫn ở mức tương đốii bình ổn so với các nguyên liệu thay thế khác.

Với những thuộc tính dinh dưỡng có một không hai của mình, dầu cá và bột cá luôn là những sản phẩm đắt khách trong suốt chiều dài lịch sử phát triển NTTS. Bột cá và dầu cá không chỉ là thức ăn cho các loài cá ăn động vật mà còn cho cả các loài ăn thực vật trong thời kỳ ương giống. Hầu hết các loài cá và giáp xác sống nhờ động vật phù du khi còn nho, do vậy chúng có một nhu cầu rất lớn đối với protein và các axit béo thiết yếu, nhu cầu này có thể dễ dàng đáp ứng bởi các thành phần thức ăn gốc biển.

Khi phương thức NTTS thâm canh mới ra đời trong những năm 1960-1970, bột cá và dầu cá đang được dùng chủ yếu làm thức ăn cho động vật trên cạn và chất béo làm tác nhân hydro hoá trong sản xuất bơ thực vật. Song khi hiểu rõ hơn đặc tính dinh dưỡng của thịt gia cầm và lợn, người ta chuyển sang tiêu thụ bơ thực vật nhiều hơn, vì thế ngành NTTS đang phát triển có cơ hội lớn hơn để tiếp cận nguồn cung bột cá và dầu cá.

Theo thời gian, NTTS ngày càng tiêu thụ nhiều bột cá và dầu cá, hiện nay chiếm khoảng 60% tổng mức tiêu thụ bột cá và 80% tổng mức tiêu thụ dầu cá của thế giới. Xu hướng này cộng với tình trạng tăng giá của cả hai loại nguyên liệu khiến người ta nghĩ đến 2 khả năng: (1) trong tương lai, tốc độ phát triển NTTS bị hạn chế vì thiếu bột cá và dầu cá; (2) nguồn lợi biển sẽ bị khai thác cạn kiệt để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của NTTS.

Song, nhìn lại năm 1960, khi mà 99% sản lượng bột cá (3 triệu tấn/năm) dùng cho ngành chăn nuôi gia cầm và lợn, người ta cũng từng nghĩ là sự tăng trưởng của ngành này sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng do thiếu bột cá. Thế nhưng, sự việc không xảy ra như dự đoán. Ngành chăn nuôi gia cầm, gia súc vẫn phát triển (nay lớn gấp 10 lần thời điểm đó) trong khi sản lượng bột cá chỉ tăng lên mức 5 triệu tấn.

Còn ngành NTTS thì sao? Giả sử khu vực chăn nuôi gia súc, gia cầm vẫn tăng trưởng thoải mái và hoạt động khai thác vẫn nằm trong tầm kiểm soát thì liệu ngành NTTS có khác không?

NTTS : một lĩnh vực “đa ngành”

Không giống như ngành chăn nuôi lợn, ngành NTTS không chỉ là một ngành với một vật nuôi duy nhất. Mức độ “đa loài” trong NTTS thể hiện ở sự khác biệt về tỷ lệ tiêu thụ bột cá và dầu cá giữa các loài (H. 1). Mỗi “phân ngành” trong ngành NTTS có những điểm riêng về nhu cầu dinh dưỡng, tập quán cho ăn, hạn chế môi trường, nguồn cung nguyên liệu thức ăn, giá cả thị trường, thị hiếu người tiêu dùng.

Nhu cầu bột cá và dầu cá của ngành NTTS tăng trưởng đều đặn trong 8 năm qua (H.2). Cũng trong khoảng thời gian đó, mức tiêu thụ bột cá cho NTTS tăng dần đến khoảng 3 triệu tấn – vào năm 2004, nhưng từ sau đó chỉ tăng rất ít. Với dầu cá, mức tiêu thụ hằng năm cho NTTS giữ ở mức 0,7 – 0,8 triệu tấn/năm trong vòng 8 năm đó.

Các nguyên liệu thay thế

Sự ổn định mức tiêu thụ bột cá có được là nhờ việc sử dụng ngày càng nhiều nguyên liệu thay thế. Chẳng hạn, sản lượng cá hồi trong vòng 8 năm qua tăng 50%, từ 1,6 lên 2,4 triệu tấn/năm (+50%), nhưng tỷ lệ bột và dầu cá trong khẩu phần ăn của loài này lại giảm, dẫn tới mức tiêu thụ bột cá cho nuôi cá hồi chỉ tăng từ 0,78 lên 0,92 triệu tấn/năm (+18%) và dầu cá từ 0,53 triệu tấn lên 0,58 triệu tấn/năm (+9%).

Việc tăng hay giảm tỷ lệ một nguyên liệu trong thức ăn phụ thuộc vào giá trị dinh dưỡng và giá của nguyên liệu đó so với các nguyên liệu khác. Giá trị dinh dưỡng gắn với nhu cầu của vật nuôi và với bản thân nguyên liệu đó, còn giá thì do điều kiện thị trường quyết định.

Như trường hợp gia cầm và lợn, người ta đã tìm ra được những nguyên liệu rẻ hơn để thay thế bột cá. Điểm khác biệt lớn giữa thức ăn cho nông nghiệp và thức ăn cho NTTS là thức ăn cho NTTS phải có nhiều protein hơn, một phần vì động vật thuỷ sinh hấp thu các chất cacbon hydrat rất kém. Do không tiêu thụ nhiều cacbon hydrat nên rất nhiều loại thực vật không thể sử dụng để làm thức ăn cho cá. Loại nguyên liệu hay thay thế bột cá nhất trong NTTS là bột đậu tương.

Tăng trưởng NTTS

Các bài báo khoa học gần đây liên tục đưa ra những nhận định kiểu 1+1 = 2 về bột cá, như giá bột cá tăng sẽ hạn chế tốc độ tăng trưởng của NTTS. Hình 3 cho thấy giá của cả bột cá và đậu tương đều tăng trong 10 năm qu,a tuy giá bột cá có đắt hơn. Nhưng đáng chú ý hơn là bảng thứ 2, thể hiện tỷ lệ chênh lệch giá của hai nguyên liệu đó. Do có hàm lượng protein cao hơn và không chứa nhiều chất kháng dưỡng nên giá bột cá thường cao gấp 3 lần giá bột đậu tương. Năm 2006, giá bột cá tăng mạnh và tỷ lệ chênh lệch giữa giá bột cá và bột đậu tương lên đến 6:1.

Tốc độ tăng đột ngột này kéo theo sự thay đổi trên diện rộng về tỷ lệ sử dụng bột cá và bột đậu tương trong thức ăn nuôi thuỷ sản. Giá bột cá sau đó lại tụt dốc không phanh trong khi giá đậu tương tăng. Kết quả là trong 18 tháng qua, tỷ lệ chênh lệch giá giữa 2 nguyên liệu này thậm chí còn thấp hơn tỷ lệ lịch sử 3:1.

Qua đó, có thể thấy không có bằng chứng nào chứng minh một mình giá bột cá có thể thể hạn chế NTTS phát triển. Đúng hơn phải là giá tất cả các nguyên liệu làm thức ăn thuỷ sản tăng trong thời gian gần đây đã làm giảm lợi nhuận nuôi và theo đó hạn chế tốc độ tăng trưởng của ngành này.

Dầu cá

Vì tỷ lệ dầu cá sử dụng trong NTTS lớn hơn bột cá nên nhiều người nói trong tương lai, dầu cá chứ không phải bột cá mới là “bẫy” hạn chế tăng trưởng. Nguyên liệu sử dụng thay dầu cá phố biến nhất trong NTTS là dầu hạt cải. Hình 4 phản ánh xu hướng và tỷ lệ chênh lệch giá giữa hai loại dầu này.

Năm 2002, dầu cá đắt hơn dầu hạt cải nhiều, nhưng xu hướng sử dụng dầu hạt cải thay dầu cá đã đẩy giá dầu cá xuống thấp hơn giá dầu hạt cải trong một thời gian dài. Năm 2008, giá của cả hai loại lại tăng vọt nhưng giá dầu cá tăng nhanh hơn. Kết quả là dầu hạt cải được dùng để thay thế và giá dầu cá giảm xuống mức kỷ lục (=1/2 giá dầu hạt cải). Không thấy bằng chứng nào cho thấy giá dầu cá tăng vì cung thiếu.

Hầu hết các loài cá, trong đó có cá hồi, không đòi hỏi phải có nhiều hàm lượng axit béo thiết yếu trong dầu, do đó dầu cá có thể dễ dàng bị thay thế bằng nguyên liệu khác nếu giá tăng quá cao. Tăng trưởng của cá nhìn chung không bị ảnh hưởng, nhưng hàm lượng axit béo thiết yếu trong cá thành phẩm sẽ thấp đi. Điều này có ý nghĩa không nhỏ nếu cá được bán ở những thị trường quan tâm nhiều đến các chất này.

Tóm lại, số liệu cho thấy tuy sản lượng bột cá và dầu cá không tăng nhưng giá vẫn giữ tương đối ổn định so với các nguyên liệu thay thế. Ngoài ra, khối lượng bột cá và dầu cá sử dụng cho NTTS mấy năm qua không thay đổi, trong khi sản lượng NTTS vẫn tăng đều.

Nghề cá bền vững

Vấn đề mấu chốt nhất mà ngành sản xuất bột cá và dầu cá đang phải đối mặt là làm sao để chứng minh được là nguồn nguyên liệu chính để sản xuất ra chúng – các loài cá nổi – được khai thác một cách bền vững. Khai thác ở đây có 2 cách, một là khai thác nguồn lợi tự nhiên cho đến khi cạn kiệt, và hai là khai thác nhưng vẫn duy trì số lượng cần thiết để nguồn lợi có thể phục hồi được.

Đặc thù của các loài cá nổi là vòng đời ngắn, sinh trưởng nhanh nên có thể dùng cách khai thác “duy trì”. Sản lượng cá nổi luôn cao trong nhiều thập kỷ là minh chứng cho việc này. Tuy nhiên, cũng có những trường hợp buông lỏng quản lý và một số loài cá bị khai thác cạn kiệt. Vì vậy, ngành bột cá và dầu cá phải làm cho khách hàng và những bên liên quan yên tâm, rằng bột cá sử dụng trong NTTS bắt nguồn từ những nghề cá có trách nhiệm.

Chương trình nguồn cung bền vững toàn cầu

Với sự giúp đỡ của nhiều bên tham gia, trong đó có Liên minh NTTS Toàn cầu, Tổ chức Dầu cá và Bột cá Quốc tế đã triển khai xây dựng Chương trình Nguồn cung Bền vững. Đây là một tập hợp các tiêu chuẩn do bên thứ 3 đánh giá nhằm chứng nhận cho những nhà sản xuất bột cá và dầu cá là : (1) sản phẩm của họ sử dụng nguồn nguyên liệu của những nghề cá được quản lý đúng với Quy tắc ứng xử về nghề cá có trách nhiệm của FAO; (2) không sử dụng nguyên liệu bị khai thác trái phép, không báo cáo, không quản lý (IUU); (3) nhà máy chế biến áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng để đảm bảo sản phẩm không nhiễm bẩn.

Những hồ sơ xin chứng nhận đầu tiên của chương trình này đang trong quá trình đánh giá. Nhiều nhà sản xuất cũng như những bộ phận khác trong chuỗi giá trị tỏ ra rất quan tâm bởi những hệ thống chứng nhận kiểu này là một cơ sở để ngành NTTS chứng minh rằng sản phẩm của mình được sản xuất bền vững, đồng thời cho phép ngành tiếp tục tăng trưởng một cách bền vững.

Thái Thanh Phương dịch
Global Aquaculture Advocate,
Tháng 1-2/2010

Album công đoạn bốc hàng lên xe tải

Mọi người xem ảnh tại đây nhe.

Nguyên ngày tạo Blog Bột cá biển

Chào quý bạn,

Sắp tới Bột cá biển sẽ cập nhật những thông tin liên quan đến Cơ sở Sản xuất Bột cá Dương Quang trên blog này. Bên cạnh blog Bột cá biển trên wordpress, chúng tôi cũng cập nhật thông tin trên trang mạng xã hội Bột cá biển trên facebook.

Banner trang Blog Bột cá biển

Banner trang Blog Bột cá biển

Thân chào quý bạn.

Kim Liên.

%d bloggers like this: