Bột Cá Biển

Cơ sở sản xuất bột cá Nguyễn Thị Sậu cung cấp bột cá biển (Cá Ngừ) 55 đạm, không pha tạp chất. Tel: 0966 245 345

Monthly Archives: Tháng Chín 2016

Phát triển thực phẩm sạch: Cần những chính sách cụ thể

Chuyển từ kiểu tự cung tự cấp sang phát triển mang tính hàng hóa, số lượng lớn, chất lượng đồng đều, người chăn nuôi Việt Nam còn phải đối mặt với bài toán cung ứng sản phẩm “sạch” với giá cả phù hợp. Nhiều cơ sở chạy theo lợi nhuận, sản xuất bất chấp tiêu chuẩn vệ sinh an toàn, thay vì xây dựng một nền chăn nuôi vững chắc và khoa học.

Ám ảnh ngộ độc

Thống kế cho thấy, năm 2013 cả nước có 167 vụ ngộ độc thực phẩm, 5.558 người bị ngộ độc, 28 người chết. Năm 2014 có 194 vụ, 5.203 người ngộ độc, 43 người chết. Năm 2015, 171 vụ, 4.965 người mắc và 23 trường hợp tử vong. Như vậy, ngộ độc thực phẩm không chỉ là hồi chuông báo động mà đang là hồi chuông báo tử.

Tính toán cũng cho thấy, chi phí mà xã hội bỏ ra không nhỏ để xử lý ngộ độc thực phẩm, đơn cử tiền thuốc men và viện phí cho mỗi nạn nhân ngộ độc do vi sinh vật chừng 300.000 – 500.000 đồng, ngộ độc do hóa chất (thuốc trừ sâu, phẩm màu…) 3 – 5 triệu đồng.

Phân loại nguyên nhân thì ngộ độc thực phẩm do nhiễm vi sinh vật chiếm tới 33 – 49%; vi khuẩn Salmonella là thủ phạm của 70% vụ; ô nhiễm hóa chất chiếm 11 – 27% và 27% số vụ do ăn phải thực phẩm tồn đọng hóa chất.

Chậm trễ trong giết mổ công nghiệp

Thực trạng giết mổ gia súc, gia cầm lạc hậu trở thành vấn đề nan giải hiện nay. Việc giết mổ thường diễn ra vào ban đêm, với khoảng thời gian ngắn, thiếu nhân lực, thiếu mặt bằng… Chưa kể, phương tiện vận chuyển heo, gà mới mổ chủ yếu là những chiếc xe máy cà tàng chạy khắp làng quê, thành thị, bất kể trời nắng, mưa hay khói bụi.

Việc xây dựng các điểm giết mổ công nghiệp sẽ giúp người chăn nuôi ý thức được quy trình nuôi sạch. Ngoài ra, các cơ sở này cũng góp phần quản lý sản phẩm “đầu vào” nguyên liệu, bằng cách khuyến khích sản phẩm sạch theo nguyên tắc “nước chảy chỗ trũng”. Đáng tiếc là cả nước có tới 28.285 điểm giết mổ gia súc, gia cầm nhỏ lẻ, trong khi chỉ 59 cơ sở giết mổ tập trung (chiếm 0,51%).

Thực trạng này được lý giải là do một số điểm giết mổ tập trung được đầu tư quy mô nhưng lại rơi vào tình trạng “khan hiếm nguyên liệu” do lượng gia súc, gia cầm cung ứng có nơi chỉ đạt 5% công suất. Còn người chăn nuôi cho rằng, việc bán sản phẩm cho thương lái và các lò mổ nhỏ lẻ thuận tiện lại giảm chi phí.

Quản lý lỏng lẻo

Người tiêu dùng vẫn quan niệm “Việc quản lý vệ sinh môi trường trước hết là quản lý từ gốc, tức là từ hộ chăn nuôi”. Nhưng từ trước đến nay, việc quản lý thường diễn ra ở các chợ, khi sản phẩm đã được giết mổ xong và trang thiết bị kiểm định lại thiếu thốn. Lâu nay, đa phần cơ quan chức năng tập trung vào lĩnh vực khuyến nông, còn việc quản lý thậm chí xử phạt hành chính về an toàn vệ sinh thực phẩm ngay tại các làng xã là rất khó khăn.

Các nhà làm chuyên môn và quản lý cho rằng, để người chăn nuôi không sử dụng chất tạo nạc thì phải cần nhiều ngân sách truyên truyền đến tận người dân. Cần có lực lượng cán bộ đông đảo hơn. Song nếu cứ chăn nuôi nhỏ lẻ thì số lượng cán bộ chức năng sẽ phình ra ngày càng nhiều. Giải pháp để phát triển bền vững là xây dựng ngành chăn nuôi tập trung, quy hoạch vùng, hạn chế thiệt hại do dịch bệnh gây ra, tạo nên những sản phẩm chăn nuôi có giá trị cao và được kiểm định thường xuyên chất lượng sản phẩm. Song vấn đề đầu ra lại đang gặp khá nhiều khó khăn đối với các vùng nuôi tập trung.

Liên kết chuỗi và thương hiệu

Khó khăn cho người tiêu dùng là không phân biệt được đâu là sản phẩm sạch trên thị trường. Giải quyết vấn đề này, các công ty cũng đã và đang xây dựng những mô hình liên kết chuỗi, truy xuất nguồn gốc.

xây dựng các điểm giết mổ công nghiệp - chăn nuôi

Xây dựng các điểm giết mổ công nghiệp góp phần phát triển thực phẩm sạch

Công ty CP Chăn nuôi C.P Việt Nam đã phát triển sản phẩm “Five Star” với mô hình hợp tác kinh doanh tại 9 quốc gia như: Thái Lan, Bangladesh, Campuchia, Ấn Độ, Myanmar, Malaysia… Sản phẩm chính của Five Star là gà rán và xiên que, sử dụng nguyên liệu gà tươi của đơn vị này với quy trình sản xuất khép kín từ con giống, chăn nuôi cho đến thành phẩm trên bàn ăn. Đây là một hướng đi hiện đại của các công ty cung ứng thực phẩm. Với các trang trại Việt Nam, việc liên kết chuỗi cũng đã được chú ý hơn trước kia và giúp nhiều doanh nghiệp thành công.

Bài toán giá thành

Các sản phẩm “sạch” hiện vẫn còn ở mức giá cao so với mặt bằng chung là vấn đề không chỉ riêng đối với Việt Nam. Chẳng hạn, giá thịt heo được chăn nuôi theo quy trình hiện đại bền vững, không sử dụng kháng sinh, hóa chất ở Singapore đắt hơn gấp 4 lần so với sản phẩm cùng loại mà ngành chăn nuôi Việt Nam cung cấp cho thị trường.

Hiện đã có trên 100 trang trại chăn nuôi lớn và hơn 9.000 hộ chăn nuôi đã được công nhận đạt tiêu chuẩn VietGAP. Dự án Cạnh tranh ngành chăn nuôi và an toàn thực phẩm (LIFSAP) do Ngân hàng Thế giới tài trợ với tổng vốn lên tới 79,03 triệu USD triển khai trên 12 tỉnh, thành phố của cả nước. Song việc sản xuất cũng cầm chừng. Giá thành sản xuất sản phẩm sạch theo hướng hiện đại có chi phí  cao hơn sản phẩm nuôi công nghiệp trước đây 2.000 – 4.000 đồng/kg.

Thực tế là rất nhiều cửa hàng bán thực phẩm sạch mà chúng tôi tiếp cận chỉ sau thời gian ngắn đã phải đóng cửa vì vắng khách. Những cửa hàng vốn bán thực phẩm thường đang đông khách, khi chuyển sang bản thực phẩm sạch thì khách hàng giảm mạnh và thua lỗ nặng.

Nhiều chủ cửa hàng và các siêu thị cho rằng nhà nước nên có chính sách thiết thực phát triển các sản phẩm sạch, bằng cách có chính sách ưu đãi thuế, chính sách hỗ trợ về giá… tạo sức hút ban đầu đối với người dân khi sử dụng các sản phẩm VietGAP, các sản phẩm sạch của bà con nông dân.

>> Bên cạnh việc thay đổi nhận thức tiêu dùng của người dân hướng sang sản phẩm sạch, nói “không” với thực phẩm không an toàn, thì vấn đề của ngành chăn nuôi là phải cung cấp sản phẩm sạch ở mức giá có sức cạnh tranh tốt. Người nội trợ đánh giá, sản phẩm sạch hiện đắt hơn 2 – 3 lần thực phẩm bán trên thị trường nói chung.          

Nguồn: Nguoichannuoi

Advertisements

Nuôi vịt chạy đồng ‘một vốn, bốn lời’

Đã nhiều năm nay, nông dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An phát triển nghề nuôi vịt chạy đồng, theo các vụ lúa trong năm. Nghề này không những giảm được chi phí đầu tư, nâng cao hiệu quả kinh tế mà còn cung cấp nguồn thực phẩm sạch cho thị trường.

Vào vụ thu hoạch, nông dân Yên Thành bắt đầu thả vịt ra đồng để tìm kiếm thức ăn tự nhiên từ các cánh đồng lúa.

Vào vụ thu hoạch, nông dân Yên Thành bắt đầu thả vịt ra đồng để tìm kiếm thức ăn tự nhiên từ các cánh đồng lúa.

Đã nhiều năm nay, anh Trần Quang Giang (xóm 9, xã Xuân Thành) đầu tư phát triển chăn nuôi vịt chạy đồng. Khi cây lúa bắt đầu trổ bông, cũng là thời điểm anh nuôi vịt. Theo kinh nghiệm, anh đặc biệt chú trọng chăm sóc đàn vịt giai đoạn vịt con mới nở, chưa đủ sức để tìm mồi. Thức ăn cho vịt giai đoạn này chủ yếu là cám gạo và cám ngô trộn lẫn với cua, ốc bằm nhỏ, để đảm bảo đủ chất dinh dưỡng. Vịt chạy đồng sống trong môi trường tự nhiên nên trong 25 ngày đầu, vịt được tiêm các mũi phòng dịch bệnh.

Vào vụ thu hoạch lúa, anh sẽ thả vịt ra đồng để ăn những hạt thóc rơi vãi và tìm kiếm các loại mồi tự nhiên.Trung bình mỗi vụ, anh Giang nuôi trên 2.000 con vịt, chỉ sau 2 tháng chăn thả, vịt có trọng lượng từ 1,8-2 kg/con.

Riêng vụ hè thu năm nay, gia đình anh đã đầu tư 60 triệu đồng để nuôi 2.500 con vịt chạy đồng, dự kiến khoảng hơn 1 tháng nữa sẽ xuất bán 5 tấn vịt thương phẩm. Với giá thị trường hiện nay 35 ngàn đồng/kg, gia đình anh sẽ thu về khoảng 170 triệu đồng, trừ chi phí đầu tư ban đầu, sẽ đưa lại một nguồn lãi cao chỉ trong khoảng thời gian ngắn.

Với tiềm năng lợi thế của một huyện nông nghiệp, có trên 13 ngàn ha canh tác, mỗi năm sản xuất 2 vụ lúa và có gần 2.000 ha ao hồ mặt nước, chưa kể hệ thống sông ngòi, kênh rạch… nghề nuôi vịt chạy đồng đã trở thành nghề truyền thống của nông dân Yên Thành.

Vịt nuôi chạy đồng thường là giống vịt cỏ địa phương hoặc vịt lai nên có sức đề kháng cao và rất nhanh nhẹn. Do vận động nhiều nên vịt trọng lượng của vịt chạy đồng không lớn như một số giống vịt khác nhưng thịt lại săn chắc, thơm ngon và giàu chất dinh dưỡng. Vịt chạy đồng là nguồn thực phẩm sạch, hiện rất được thị trường ưa chuộng nên đầu ra luôn ổn định.

Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của nhiều hộ dân, nuôi vịt chạy đồng không phải năm nào cũng thuận lợi. Do vịt kiếm ăn từ các cánh đồng trải dài nên thường bị hao hụt tổng đàn. Mặc dù, từ khi con giống nuôi thả đã được phòng dịch nhưng dịp thời tiết nắng, mưa thất thường, vịt chạy trên đồng thường dễ mắc bệnh. Do đó, người nuôi phải thường xuyên trông coi, để có biện pháp chăn nuôi và phòng dịch phù hợp.

Hiện nay, trên địa bàn huyện Yên Thành, ngoài 200 nghìn con vịt gốc đang được nuôi nhốt để cung cấp con giống và trứng thương phẩm, mỗi mùa vụ còn có khoảng 400 nghìn con vịt được nuôi thả trên đồng ruộng. Nhiều hộ có điều kiện kinh tế và lao động thường nuôi từ 3 – 4 nghìn vịt chạy đồng, chủ yếu được cung cấp bằng nhiều nguồn thức ăn tự nhiên sẵn có trên đồng ruộng nên vịt nhanh lớn, chỉ sau 2 tháng vịt sẽ đủ tiêu chuẩn để xuất bán, giảm được nhiều chi phí đối với người chăn nuôi.

Nghề chăn nuôi vịt chạy đồng ở huyện lúa Yên Thành đang trở thành nghề cho thu nhập ổn định, góp phần giải quyết việc làm và làm giàu chính đáng cho người nông dân.

Nguồn: Báo Nghệ An

An Giang: Sẽ quy hoạch vùng nuôi heo ứng dụng công nghệ cao

Ngày 14-9, Chủ tịch UBND tỉnh An Giang Vương Bình Thạnh dẫn đầu đoàn công tác của tỉnh khảo sát thực tế tình hình đầu tư chăn nuôi heo ứng dụng công nghệ cao (CNC) tại Tri Tôn, kết hợp làm việc với 2 huyện Tri Tôn và Tịnh Biên.

Tham quan mô hình trại heo giống CNC của Công ty TNHH Giống – Chăn nuôi Việt Thắng An Giang, Chủ tịch UBND tỉnh Vương Bình Thạnh hoan nghênh doanh nghiệp đã chọn An Giang làm điểm đầu tư, cung cấp con giống và tinh heo chất lượng cao cho cả nước, từng bước giảm lệ thuộc về con giống, thức ăn chăn nuôi vào các tập đoàn nước ngoài. Đối với mô hình chăn nuôi heo CNC của Trại heo Hoàng Vĩnh Gia, Chủ tịch UBND tỉnh cho rằng, đây là mô hình hiệu quả, lợi nhuận ổn định, khả năng thu hồi vốn cao…

Theo đó, Chủ tịch UBND tỉnh Vương Bình Thạnh giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN-PTNT) phối hợp Sở Khoa học – Công nghệ tham mưu quy hoạch vùng nông nghiệp ứng dụng CNC đối với vùng nuôi heo ở Tri Tôn, Tịnh Biên theo tiêu chuẩn của Bộ NN-PTNT để được hưởng chính sách ưu đãi. Đồng thời, điều chỉnh chính sách hỗ trợ các hộ gia đình, cá nhân, hợp tác xã trên địa bàn tỉnh phát triển chăn nuôi heo thịt, sử dụng nguồn heo giống chất lượng cao do Công ty TNHH Giống – Chăn nuôi Việt Thắng cung cấp. Tỉnh sẽ xem xét giảm lãi suất cho vay từ Quỹ hỗ trợ của tỉnh để khuyến khích doanh nghiệp mở rộng sản xuất, nhất là đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp…

Nguồn: Báo An Giang

An Giang: Người nuôi bò đạt hiệu quả kinh tế cao

Đó là khẳng định của ông Nguyễn Văn Châu, nông dân nuôi bò thịt, xã Vĩnh Hòa (TX. Tân Châu) khi đề cập tình hình chăn nuôi bò thịt hiện nay.

nuoi-bo

Ông Châu cho biết, nếu trước đây, 1 con bê giống giá từ 17 – 18 triệu đồng/con, nay chỉ còn 12 – 13 triệu đồng/con, trong khi giá bò hơi được thương lái mua bình quân từ 65.000 – 72.000 đồng/kg (mức giá cũ). Với thời gian nuôi vỗ béo từ 8 – 12 tháng, sau khi trừ các khoản chi phí, mỗi con bò nông dân lãi ít nhất 10 triệu đồng. Hiện, tổng đàn bò của gia đình ông Châu lên đến 32 con, mức lãi này đã tạo nguồn thu nhập chính, hiệu quả cho gia đình ông.
Đàn bò của tỉnh hiện đạt khoảng 100.000 con, tập trung nhiều ở các huyện Tri Tôn, Tịnh Biên, Châu Phú, Chợ Mới và TX. Tân Châu. Khoảng 1 năm trước, giá bê giống luôn ở mức cao, người nuôi không có lãi nhiều nên đã bán hết. Nay, thị trường trong tỉnh đang thiếu hụt bò thịt cỡ lớn.
Nguồn: Báo An Giang

TP Hồ Chí Minh: Duy trì đàn bò sữa 100.000 con

UBND TP Hồ Chí Minh vừa phê duyệt Đề án nâng cao chất lượng đàn bò sữa trên địa bàn thành phố giai đoạn 2016 – 2020. Theo đề án này, TP Hồ Chí Minh phấn đấu duy trì đàn bò sữa ổn định ở mức 100.000 con, trong đó cơ cấu đàn cái sinh sản chiếm 60 – 70% và đàn cái vắt sữa chiếm 50% tổng đàn.

Phấn đấu đến năm 2020, năng suất sữa bình quân đạt 7.700 kg/con/năm (tương đương 21 kg/con/ngày); sản lượng sữa hàng hóa năm 2020 đạt 360.000 tấn/năm. Cả giai đoạn 2016 – 2020 là 1,6 triệu tấn (tăng 28,5% so với năm 2015 và 26,91% so với giai đoạn 2011 – 2015).

Cũng theo đề án, thành phố đặt chỉ tiêu chất lượng sữa có hàm lượng chất béo 3,5 – 4%, protein sữa 3 – 3,5%, vật chất khô 12 – 13,5%, số lượng tế bào somatic 600.000 – 700.000 tế bào/ml; không còn tình trạng tồn dư kháng sinh trong sữa hoặc trộn lẫn các hóa chất vào sữa nguyên liệu.

Thành phố sẽ áp dụng các tiêu chí thực hành chăn nuôi tốt (VietGAHP) trong chăn nuôi bò sữa tại nông hộ; tỷ lệ cơ giới hóa, hiện đại hóa trong chăn nuôi bò sữa đạt 50 – 60%; tỷ lệ sử dụng thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (TMR) lên 45 – 50%.

Theo đó, đàn giống bò sữa đạt trọng lượng bê sơ sinh 30 kg/con, trọng lượng lúc cai sữa 95 kg/con, tuổi phối giống lần đầu 15 – 16 tháng, tuổi đẻ lứa đầu 24 – 25 tháng, khoảng cách 2 lứa đẻ 400 – 425 ngày, số liều phối giống cho con đậu thai 2,5 – 3 liều/con.

Đề án cũng yêu cầu khống chế được một số bệnh trên bò sữa như lở mồm long móng, lao, Brucellosis, Leptospirosis và ký sinh trùng đường máu trên bò sữa.

Nguồn: Người chăn nuôi

Nâng cao vị thế sản phẩm

Danh hiệu “Sản phẩm Vàng chăn nuôi gia cầm Việt Nam” được tổ chức với mong muốn tôn vinh những sản phẩm gia cầm chất lượng cao; khẳng định thương hiệu doanh nghiệp, người chăn nuôi gia cầm Việt Nam; thúc đẩy phong trào lao động, sáng tạo khoa học kỹ thuật; góp phần đưa ngành gia cầm Việt Nam phát triển bền vững và hội nhập quốc tế thành công.

“Sân chơi” lớn cho mọi nhà

Chương trình do Hiệp hội Chăn nuôi Gia cầm Việt Nam phối với Cục Chăn nuôi, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia và Công ty TNHH Truyền thông VietnamMedia tổ chức. Dự kiến, Lễ tôn vinh và trao Danh hiệu được diễn ra vào tháng 11/2016 tại Hà Nội. Thông qua Chương trình, nhiều sản phẩm có chất lượng tốt, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, đáp ứng các tiêu chí bảo vệ môi trường của ngành gia cầm Việt Nam sẽ được vinh danh, có cơ hội quảng bá trực tiếp đến tay người tiêu dùng tại thị trường nội địa và quốc tế; từ đó giúp các doanh nghiệp có thêm động lực để xây dựng thương hiệu, sản phẩm mang tầm quốc tế, có thêm hành trang trong hoạt động sản xuất kinh doanh khi Việt Nam bước vào sân chơi hội nhập kinh tế thế giới và tham gia thành công vào các Hiệp định tự do thương mại.

Ông Nguyễn Thanh Sơn, Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi Gia cầm Việt Nam, cho biết: “Danh hiệu này được tổ chức nhằm tạo sân chơi cho tất cả doanh nghiệp, tập thể, cá nhân hoạt động sản xuất kinh doanh, nghiên cứu trong lĩnh vực chăn nuôi gia cầm trên lãnh thổ Việt Nam tham gia và tỏa sáng. Chương trình hứa hẹn sẽ thu hút nhiều đối tượng trong ngành”.

Tất cả các sản phẩm của ngành chăn nuôi nói chung, chăn nuôi gia cầm nói riêng đều có cơ hội tham gia bình xét, bao gồm: Con giống (gà, vịt, ngan, ngỗng, đà điểu, chim cút…); thức ăn chăn nuôi; thuốc thú y và chế phẩm sinh học (vaccine…); sản phẩm chăn nuôi gia cầm (trứng, thịt gia cầm sống, chế biến); thiết bị chuồng trại, chế biến giết mổ.

Tiêu chí rõ ràng

Theo quy định của Ban tổ chức, các sản phẩm tham gia Chương trình bình chọn được phân theo 6 nhóm chính: Nhóm giống gà, vịt, ngan, ngỗng… sinh sản, nuôi thịt; Nhóm giống gà, vịt, ngan, ngỗng… đẻ trứng; Nhóm thức ăn chăn nuôi gia cầm; Nhóm thuốc thú y, chế phẩm sinh học; Nhóm sản phẩm chăn nuôi gia cầm (trứng, thịt); Nhóm thiết bị chuồng trại, dụng cụ giết mổ, chế biến sản phẩm.

Tất cả các sản phẩm của ngành chăn nuôi gia cầm đều có cơ hội bình xét Danh hiệu - chăn nuôi

Tất cả các sản phẩm của ngành chăn nuôi gia cầm đều có cơ hội bình xét Danh hiệu

Hồ sơ các sản phẩm tham gia bình chọn được lập theo mẫu và khung nội dung do Ban tổ chức quy định. Khi khai hồ sơ, doanh nghiệp, tập thể, cá nhân nên bám sát các tiêu chí cơ bản để cung cấp nội dung thông tin phục vụ công tác đánh giá. Đơn vị tham gia Chương trình chịu trách nhiệm về tính trung thực của thông tin trong hồ sơ.

Sau khi Ban tổ chức tiếp nhận hồ sơ đăng ký tham gia, Ban thư ký sẽ phân loại theo nhóm sản phẩm và chuyển đến Hội đồng bình xét chấm điểm dựa theo thang điểm quy định của Ban tổ chức, đáp ứng 4 tiêu chí chính. Thứ nhất là về quản lý (được cơ quan có thẩm quyền cho phép sản xuất; công bố tiêu chuẩn chất lượng rõ ràng trên bao bì, nhãn mác). Thứ hai là hiệu quả kinh tế – xã hội (hiệu quả kinh tế; hiệu quả xã hội; thay thế sản phẩm nhập khẩu trong nước; công tác bảo vệ môi trường; có chính sách vì quyền lợi khách hàng). Thứ ba là tính khoa học và thực tiễn (sản phẩm mang tính mới; sản phẩm được ứng dụng rộng rãi). Và cuối cùng là thành tích khen thưởng liên quan đến sản phẩm (huy chương tại các hội chợ triển lãm; đạt các giải thưởng chất lượng, giải thưởng khoa học công nghệ).

Ngoài những tiêu chí trên, năng lực của doanh nghiệp cũng là một trong những yếu tố được Ban tổ chức xem xét, đánh giá bên cạnh các yếu tố về sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp nhằm đảm bảo sự ổn định và phát triển bền vững trong tương lai của các sản phẩm dịch vụ được công nhận Danh hiệu Sản phẩm Vàng.

Các tiêu chí là cơ sở để các Hội đồng Bình xét xem xét, đánh giá. Kết quả đánh giá, bình chọn dựa theo biểu quyết của các thành viên Hội đồng. Căn cứ trên kết quả của Hội đồng bình chọn Chung tuyển, Ban tổ chức sẽ ra quyết định công nhận Danh hiệu Sản phẩm Vàng chăn nuôi gia cầm Việt Nam của năm.

Nguồn: Nguoichannuoi

Chăn nuôi bứt phá 6 tháng đầu năm

Theo Bộ NN&PTNT, trong 6 tháng đầu năm, nếu ngành trồng trọt suy giảm mạnh tới 3% do ảnh hưởng của rét đậm và hạn mặn thì ngược lại, chăn nuôi bứt phá với mức tăng trưởng tới 4,7%, trong đó lợn và gia cầm có mức tăng mạnh nhất.

Lợn, gia cầm tăng đàn

Trong lĩnh vực nông nghiệp, chăn nuôi có mức tăng trưởng cao nhất tới 4,7% do chăn nuôi lợn và gia cầm phát triển tốt. Ước tính tổng số lợn cả nước 6 tháng đầu năm là 28,3 triệu con, tăng 3,9% so cùng kỳ năm 2015; số gia cầm đạt 341,5 triệu con, tăng 4,3%. Ông Nguyễn Xuân Dương, Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi cho biết, chăn nuôi lợn tăng là do những tháng đầu năm, chúng ta đã xuất khẩu được nhiều lợn sang Trung Quốc. Tuy vậy, lĩnh vực này hiện phát triển quá nhanh, tiềm ẩn nhiều mối nguy về ô nhiễm môi trường. Bởi, Trung Quốc đã đóng cửa nhiều trại chăn nuôi lợn vì gây ô nhiễm môi trường và phải quay sang nhập khẩu lợn của Việt Nam, khiến nhu cầu phát triển đàn lợn tăng cao.

chăn nuôi có mức tăng trưởng cao nhất trong nông nghiệp tính đến 6/2016 - chăn nuôi

6 tháng đầu năm 2016, chăn nuôi có mức tăng trưởng cao nhất trong lĩnh vực nông nghiệp Ảnh: Quang Quyết

Biến động về giá

Cùng với đó, giá thịt tại thị trường trong nước những tháng đầu năm khá nhiều biến động. Về thịt, trong tháng 6, giá thu mua lợn hơi tại nhiều địa phương vẫn đang diễn biến theo xu hướng giảm. Theo đó, tại trại ở khu vực Đông Nam bộ đã giảm 3.500 đồng/kg, xuống mức 45.000 đồng/kg; tại các tỉnh ĐBSCL giảm 1.000 đồng/kg, xuống mức 46.500 đồng/kg; tại Nam Định giảm 2.000 đồng/kg, xuống mức 42.000 đồng/kg.

Cùng chiều với giá lợn hơi, giá thu mua gà công nghiệp lông màu và lông trắng cũng đang diễn biến theo xu hướng giảm do nguồn cung dồi dào. Cụ thể, giá thu mua gà công nghiệp lông màu tại Đông Nam bộ đã giảm 500 – 1.000 đồng/kg so hồi đầu tháng, xuống mức 35.000 – 36.000 đồng/kg; ĐBSCL giảm 1.000 – 2.000 đồng/kg, xuống mức 36.000 – 37.000 đồng/kg. Giá thu mua gà công nghiệp lông trắng có xu hướng giảm mạnh hơn so với gà lông màu. Nhìn chung, trong 6 tháng đầu năm 2016, thị trường lợn hơi biến động tăng do nhu cầu xuất khẩu sang Trung Quốc cũng như nội địa tăng. Tuy nhiên, đến giữa tháng 5/2016, Trung Quốc đột ngột ngừng nhập lợn hơi qua đường tiểu ngạch do tăng cường công tác kiểm soát kiểm dịch đối với mặt hàng thực phẩm vào nội địa, khiến giá lợn hơi tại Việt Nam bắt đầu giảm.

Nhiệm vụ 6 tháng cuối năm

Tập trung thực hiện Tái cơ cấu ngành chăn nuôi (theo Quyết định số 984/QĐ-BNN-CN ngày 9/5/2014 của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT), trong đó sẽ xây dựng, triển khai một số chương trình, đề án phục vụ tái cơ cấu ngành chăn nuôi như: “Phát triển chăn nuôi lợn thịt theo hướng an toàn dịch bệnh gắn với giết mổ, chế biến và định hướng xuất khẩu”, “Đề án xây dựng vùng chăn nuôi bò thịt” và các chính sách khuyến khích, hỗ trợ người chăn nuôi.

Tiếp tục chỉ đạo các địa phương tập trung tăng cường các biện pháp quản lý chất lượng giống vật nuôi, thức ăn chăn nuôi, trong đó có các loại thức ăn bổ sung và chất cấm sử dụng trong chăn nuôi. Phối hợp kiểm tra, giám sát tình hình nhập lậu gia súc, gia cầm nhằm ổn định thị trường, bảo vệ sản xuất trong nước.

Tập trung chỉ đạo các biện pháp giám sát, chủ động phòng chống dịch bệnh; tiếp tục triển khai Chương trình hành động về vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường trong chăn nuôi.

Chuẩn bị các điều kiện để đảm bảo ổn định sản xuất chăn nuôi trong mùa mưa, bão; phòng chống nắng nóng cho gia súc, gia cầm trong vụ hè thu 2016 và phòng chống đói, chống rét cho đàn trâu, bò trong vụ đông xuân 2016 – 2017; chỉ đạo sát sao công tác phòng, chống dịch bệnh đối với những địa phương đang còn dịch, những địa phương không có dịch cần tập trung phát triển sản xuất, đảm bảo nguồn thực phẩm cho các dịp lễ, Tết cuối năm.

> Thứ trưởng Thường trực Bộ NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường cho biết, chăn nuôi là ngành hiếm hoi được mùa cả về các loại con, giá cả, thị trường nội địa và xuất khẩu. 6 tháng cuối năm rất mong ngành tận dụng, khai thác lợi thế để tạo đà phát triển mạnh mẽ.

Nguồn: nguoichannuoi

Thái Nguyên: Nâng cao ý thức của người dân trong việc không sử dụng chất cấm trong chăn nuôi

Sáng 29/8, tại xã Phú Thượng (Võ Nhai), Đội Quản lý thị trường huyện Võ Nhai đã phối hợp với Phòng NN&PTNT huyện đã tổ chức buổi tuyên truyền cho người dân trên địa bàn xã về việc không sự dụng chất cấm trong chăn nuôi.

Tại buổi tuyên truyền, người dân đã được lãnh đạo Đội Quản lý thị trường, Phòng NN&PTNT Võ Nhai truyền đạt các nội dung quan trọng trong Luật An toàn thực phẩm, như: Quyền và nghĩa vụ của tổ chức cá nhân trong đảm bảo an toàn thực phẩm; điều kiện đảm bảo vệ sinh thực phẩm trong sản xuất, kinh doanh; cách phòng ngừa, ngăn chặn và khắc phục sự cố về an toàn thực phẩm; tác hại của việc sử dụng chất cấm, thuốc an thần, lạm dụng sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi; các quy định về xử phạt trong việc tàng trữ, sử dụng, tàng trữ và sử dụng chất cấm trong chăn nuôi và vi phạm về vệ sinh an toàn thực phẩm.

Trong thời gian từ 29/8 đến 7/9, Đội Quản lý thị trường Võ Nhai và Phòng NN&PTNT huyện sẽ tiếp tục tổ chức tuyên truyền tại 15/15 xã, thị trấn trên địa bàn huyện. Qua đó, sẽ góp phần nâng cao nhận thực của nhân dân về an toàn thực phẩm, vận động nhân dân tham gia tố giác, đấu tranh đối với những đối tượng cố ý kinh doanh, sử dụng chất cấm trong chăn nuôi.

Nguồn: nguoichannuoi

Mô hình chăn nuôi nhỏ hiệu quả cao

Mô hình nuôi gà đẻ tạo giống và chim cút lấy trứng của hộ anh Đoàn Ngọc Cường (SN1983) ở tổ 1, ấp 2, xã Thành Tâm, huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước được coi là quy mô chăn nuôi nhỏ nhưng mang lại hiệu quả kinh tế cao. Hiện trại chăn nuôi An Bình của anh Cường phát triển rất khả quan vì trứng chim cút và ấp trứng gà cung cấp con giống mới chỉ đủ phục vụ nhu cầu người chăn nuôi ở huyện Chơn Thành.

Từ nhiều năm nay, với diện tích chưa đầy 100 m2, gia đình anh Cường nuôi khoảng 3.000 cút đẻ lấy trứng cung cấp cho tiểu thương ở chợ Chơn Thành và các vùng lân cận. Trừ chi phí mỗi năm gia đình anh thu từ 80 – 100 triệu đồng.

Theo anh Cường, việc nuôi chim cút lấy trứng cho hiệu quả kinh tế cao do chi phí đầu tư thấp, tốn ít nhân công và kháng bệnh tốt. Để nuôi 3.000 chim cút thì chi phí đầu tư chuồng trại, thiết bị, dụng cụ và con giống hết 70 – 75 triệu đồng. Sau 45 ngày trở lên là chim cút bắt đầu cho trứng và thời gian khai thác kéo dài từ 8 – 10 tháng. Muốn thành công trong chăn nuôi chim cút lấy trứng là phải lựa chọn con giống tốt, bảo đảm điều kiện chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học như chuồng trại phải được thiết kế hợp lý, cao ráo, thông thoáng, không để môi trường ẩm thấp, có hàng rào cách ly với khu vực xung quanh, có hệ thống hố sát trùng, khử trùng định kỳ… Nuôi dưỡng và chăm sóc 3.000 chim cút, mỗi ngày dành thời gian từ 4-5 giờ cho ăn và lấy trứng. Tuy không nặng nhọc nhưng đòi hỏi người nuôi phải kiên trì, thường xuyên theo dõi sức ăn và các biểu hiện của bệnh để kịp thời có hướng xử lý. Đồng thời phải đáp ứng nhu cầu nước uống và dinh dưỡng để chim cút cho năng suất trứng tối đa. Hiện trại chăn nuôi của anh Cường sử dụng chế phẩm sinh học Balasa N01 để xử lý mùi hôi và thức ăn ủ men vi sinh hoạt tính, vừa bảo đảm tiêu hóa tốt, đẻ trứng sai vừa giảm thiểu ô nhiễm do chất thải. Từ đó làm tối ưu hóa lợi nhuận thu về. Trứng cút dễ tiêu thụ và giá ổn định nên anh Cường rất an tâm để đầu tư theo hướng này. Anh cho biết, sắp tới sẽ đầu tư mở rộng quy mô lớn hơn 2 – 3 lần hiện nay.

Bên cạnh nuôi chim cút lấy trứng, anh Cường còn đầu tư nuôi hơn 100 gà đẻ và hệ thống máy ấp nhằm cung cấp con giống chất lượng tốt cho khách hàng theo nhu cầu. Bình quân mỗi tháng anh xuất bán 2.000 gà giống, lợi nhuận 3 – 4 triệu đồng. Cùng với trứng chim cút và gà giống, mỗi năm gia đình anh thu từ 110 – 150 triệu đồng.

Mô hình nuôi chim cút lấy trứng và gà đẻ cung cấp con giống cho thị trường của anh Cường không lớn về quy mô nhưng cho tổng lợi nhuận hằng năm không nhỏ. Vì thế, người chăn nuôi trong tỉnh có thể tham khảo và áp dụng. Tuy nhiên, để đảm bảo thành công, người chăn nuôi cần lưu ý nhất là tìm hiểu kỹ thuật, học hỏi kinh nghiệm và thị trường tiêu thụ sản phẩm từ chim cút và gà giống. Đầu tư cho chăn nuôi không chỉ ở quy mô mà còn là tìm thị trường đầu ra cho sản phẩm. Đây luôn là mối quan tâm rất lớn cho những ai muốn thành công với nghề.

Nguồn: Báo Bình Phước

Ngành chăn nuôi Thế giới: Cơ hội và thách thức

Ngành công nghiệp thịt heo trên thế giới có sự tăng trưởng đáng kể từ những năm 1970, sản lượng toàn cầu vượt 110 triệu tấn năm 2014. Dự báo nhu cầu tiêu thụ còn tăng mạnh trong những năm tới, tạo cơ hội cho hoạt động sản xuất và mở rộng kinh doanh quốc tế. Tuy nhiên, kéo theo đó cũng là những vấn đề đáng quan tâm.

Ngành kinh tế quan trọng

Nuôi heo hay nuôi lợn là việc thực hành chăn nuôi các giống lợn nhà để lấy thịt và các sản phẩm khác. Chăn nuôi heo là ngành hết sức quan trọng, cung cấp lượng thịt rất lớn cho bữa ăn của hàng tỷ người trên trái đất và là một loại thực phẩm thiết yếu, được tiêu thụ nhiều hơn cả thịt gà và thịt bò. Heo nuôi chủ yếu dùng để lấy thịt (thịt tươi và chế biến). Trên thực tế, gần 78% của tất cả thịt heo tiêu thụ đã được chế biến thành các mặt hàng như thịt xông khói, xúc xích, lạp xưởng… và các sản phẩm phổ biến khác.

ngành chăn nuôi cơ hội và thách thức

Người tiêu dùng Trung Quốc chi khoảng 183 tỷ USD đối với thịt heo và các sản phẩm về thịt heo – Ảnh: Qilai Shen/Bloomberg

Ở một số nước phát triển và đang phát triển, heo thuần hóa là loài bản địa thường được nuôi thả ngoài trời hoặc trong chuồng. Một số vùng heo được thả tìm thức ăn trong rừng có thể có người trông coi. Ở các quốc gia công nghiệp, nuôi heo thuần hóa được chuyển từ nuôi chuồng trại truyền thống sang hình thức chăn nuôi công nghiệp, do đó chi phí sản xuất giảm đáng kể nhưng lại cho sản lượng cao. Những trang trại nuôi heo công nghiệp có quy mô lớn, khoảng 5.000 con hoặc nhiều hơn, được nuôi và kiểm soát khí hậu trong hệ thống chuồng trại, thiết bị hiện đại.

Tiêu thụ tăng chóng mặt

Dân số thế giới tăng lên nhanh chóng trong những thập kỷ qua và sẽ tiếp tục tăng trong thế kỷ tới. Do đó, nhu cầu tiêu thụ thịt của mỗi người và của cả thế giới chắc chắn sẽ còn gia tăng mạnh. Trong suốt 40 năm qua, để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ, sản lượng thịt heo toàn cầu tăng từ 3,5 triệu tấn lên 24,7 triệu tấn (năm 1961), 86,6 triệu tấn (năm 2002), 93 triệu tấn (năm 2005) và dự kiến đạt hơn 109 triệu tấn (năm 2016).

Các khu vực sản xuất heo chính bao gồm Đông Á, Bắc Mỹ và châu Âu.  Trung Quốc thống trị ngành công nghiệp thịt heo thế giới khi dẫn đầu cả về sản xuất và tiêu thụ. Trung Quốc sản xuất 50 triệu tấn thịt heo trong năm 2012, gấp 5 lần sản lượng của Mỹ và gấp đôi EU, chiếm gần ½ sản lượng toàn cầu. Năm 2014, số lượng heo nuôi tại Trung Quốc đứng đầu thế giới, đạt 723 triệu đầu con. Tuy vậy, nước này vẫn là quốc gia nhập siêu lợn do dân số quá đông và nhu cầu tiêu thụ quá lớn.

Nhật Bản là một trong những quốc gia nhập khẩu chính của thịt heo. Sản xuất thịt heo ở Mỹ và Canada cũng có sự tăng trưởng đáng kể trong thập kỷ qua. Mỹ thay đổi từ một nước nhập khẩu thành một nước xuất khẩu thịt heo. Năm 2015, xuất khẩu thịt heo của Mỹ đạt 4 tỷ USD, chiếm 15,9% tổng kim ngạch, mang lại lợi nhuận cao gấp 4 lần so với xuất khẩu ngũ cốc. Ở Nam Mỹ, đặc biệt là Brazil, ngành chăn nuôi heo chứng kiến sự phát triển nhanh chóng bởi hội tụ nhiều yếu tố như nguồn thức ăn có sẵn, nhân công giá rẻ và tài nguyên đất dồi dào.

Xu hướng tương lai

Ngành chăn nuôi heo truyền thống theo hình thức nuôi thả ngoài trời hoặc trong chuồng trại thường có quy mô nhỏ. Hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới đã thực hiện nuôi heo hình thức công nghiệp, sử dụng các hệ thống sản xuất hiện đại, cải tiến công nghệ nhân giống lợn, cung cấp môi trường chuẩn hóa cho vật nuôi nhằm gia tăng sản lượng. Điều này chắc chắn là thách thức lớn đối với các nhà sản xuất quy mô nhỏ bởi họ rất khó để đạt được mức đầu tư cao như vậy. Hiển nhiên, việc tham gia vào chuỗi thị trường đối với các nhà sản xuất quy mô nhỏ cũng sẽ gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, song song với hình thức nuôi heo công nghiệp, thì sản xuất quy mô nhỏ vẫn sẽ có chỗ đứng nếu sử dụng con giống phù hợp, chất lượng tốt, đáp ứng được nhu cầu của thị trường; từ đó góp phần đảm bảo an ninh lương thực, cải thiện sinh kế của hàng triệu người sản xuất và đáp ứng các mục đích văn hóa.

Dù sản xuất quy mô nhỏ hay công nghiệp, xu hướng thị trường vẫn là yếu tố then chốt quyết định sự thành công hay thất bại. Điều đó nghĩa là, cần phải nhận thức những mong muốn của người tiêu dùng liên quan đến sản phẩm và cách thức sản xuất ra sản phẩm đó. Ngành thịt heo của bất kỳ quốc gia nào hay toàn cầu muốn phát triển phải đều tập trung đến 4 yếu tố cơ bản là an toàn thực phẩm, đảm bảo chất lượng và tính minh bạch, quan tâm đến tính bền vững trong sản xuất và cuối cùng là sự đa dạng trong sản phẩm.

> Đến năm 2050, dân số thế giới được dự báo tăng hơn 9 tỷ người, nhu cầu đối với các loại thịt cũng sẽ tăng gấp đôi từ năm 2000 đến 2050, trong đó, lượng tiêu thụ thịt heo đạt khoảng 143 triệu tấn.

Nguồn: Người chăn nuôi

%d bloggers like this: