Bột Cá Biển

Cơ sở sản xuất bột cá Nguyễn Thị Sậu cung cấp bột cá biển (Cá Ngừ) 55 đạm, không pha tạp chất. Tel: 0966 245 345

Monthly Archives: Tháng Tám 2016

Giải pháp khi chăn nuôi gà lấy trứng trong mùa nóng

Trong những ngày thời tiết nắng nóng, không chỉ người chăn nuôi cảm thấy vô cùng mệt mỏi mà ngay cả với vật nuôi cũng vậy. Đặc biệt, với chăn nuôi gà lấy trứng, yếu tố thời tiết có thể tác động xấu, khiến sản lượng trứng giảm một cách đáng kể. Do đó, bà con hãy cùng tham khảo một số giải pháp giúp tăng lượng trứng khi nuôi gà đẻ trong mùa nóng ngay dưới đây.

Trong những ngày thời tiết nắng nóng, không chỉ người chăn nuôi cảm thấy vô cùng mệt mỏi mà ngay cả với vật nuôi cũng vậy. Đặc biệt, với chăn nuôi gà lấy trứng, yếu tố thời tiết có thể tác động xấu, khiến sản lượng trứng giảm một cách đáng kể. Do đó, bà con hãy cùng tham khảo một số giải pháp giúp tăng lượng trứng khi nuôi gà đẻ trong mùa nóng ngay dưới đây.

Chú ý đến môi trường sống

Khi xây dựng chuồng trại trong chăn nuôi gà đẻ, bà con cần chọn hướng chuồng thoáng, mát trong mùa hè. Cùng với đó, mái chuồng nên được lợp bằng tôn mát, lá… Xung quanh chuồng nuôi, bà con cũng hãy trồng nhiều cây để tạo bóng mát. Ngoài ra, hệ thống phun nước trên mái, hệ thống rèm được bố trí đầy đủ cũng phần nào có thể làm giảm đi cái nóng oi bức của mùa hè. Việc giảm nắng nóng cũng đồng nghĩa với việc giảm stress cho gà, giúp tăng lượng trứng vô cùng hiệu quả.

Sử dụng thức ăn trong chăn nuôi gà mùa nóng

Thức ăn là yếu tố vô cùng quan trọng trong chăn nuôi gà, có tác động không nhỏ đến sản lượng trứng gà, nhất là khi điều kiện thời tiết bất lợi.

– Trong mùa hè, khẩu phần ăn, loại thức ăn sử dụng cho gà cần có sự khác biệt so với các mùa khác trong năm.

Với các loại ngũ cốc, bà con chỉ nên dùng ở mức 50% khẩu phần ăn. Trong khi đó, bà con có thể cho gà ăn thêm dầu đậu nành để tăng tỉ lệ đẻ trứng. Nhìn chung, nói theo cách dễ hiểu nhất thì trong mùa hè, gà cần được bổ sung thức ăn với hàm lượng dinh dưỡng cao hơn cả so với các mùa khác trong năm.

– Khi thời tiết nóng bức, gà thường ăn ít hơn, kém ăn hơn. Do đó, bà con hãy bổ sung thức ăn với protein, amino axit cho gà. Nếu thiếu protein sẽ ảnh hưởng khá lớn đến sản lượng trứng. Về cơ bản, tỉ lệ protein trong thức ăn của gà ở mùa hè cần cao hơn 1,8 – 2% so với mùa khác, sao cho chiếm khoảng trên 18%.

Các loại thức ăn giàu protein mà bà con có thể sử dụng là bã đậu, bã gạo, dầu hạt bông…. Trong khi đó, lượng protein động vật như bột cá chỉ nên dùng với lượng phù hợp, giúp gà ăn ngon miệng hơn.

– Bà con cần cẩn thận khi sử dụng phụ gia trong chế biến thức ăn cho gà. Thay vào đó, bà con có thể cho gà uống một số loại thuốc có công dụng giải nhiệt, giảm stress như chấtĐiện giải G-K-C có chứa 0,1 – 0,4% vitamin C và 0,2 – 0,3% Chloride.Để phòng bệnh, bà con có thể sử dụng thêm khoảng 0,04% kẽm kháng sinh. Yếu tố này rất tốt cho đường ruột của gà khi nó có thể cân bằng các vi khuẩn có lợi, giúp gà dễ hấp thụ chất dinh dưỡng, giảm stress. Bà con còn có thể dùng 0,1% axit Fumaric để giảm nhiệt, giúp gà ăn khỏe, tăng sản lượng trứng.

Ngoài những lưu ý trên, để tăng sản lượng trứng khi chăn nuôi gà trong mùa nóng, bà con cần chú ý đến mật độ nuôi. Việc tách gà với mật độ nuôi phù hợp sẽ góp phần mang đến năng suất trứng cao hơn khá nhiều. Do đó, bà con có thể cân nhắc và áp dụng với đàn gà của gia đình.

Nguồn: http://nguoichannuoi.vn/

Advertisements

Tận dụng phụ phẩm làm thức ăn chăn nuôi: An toàn, giảm chi phí

Sản xuất thức ăn chăn nuôi từ phụ phẩm nông nghiệp tại Trung tâm Ứng dụng tiến bộ Khoa học và Công nghệ (Sở Khoa học và Công nghệ).

Hiện nay, nhiều người tận dụng phụ phẩm nông nghiệp như: Cám, ngô, đậu tương, bã cá khô, rơm rạ… để tự sản xuất thành công thức ăn chăn nuôi. Áp dụng cách làm này, nông dân tiết kiệm chi phí, thu lợi nhuận cao hơn.

Cách làm mới

Gia đình ông Phan Văn Thiều, thôn 6, xã Hương Lạc (Lạng Giang) chăn nuôi bò thương phẩm quy mô 40 – 50 con/lứa. Để đàn vật nuôi sinh trưởng tốt, khi bán được giá cao, ông Thiều chăm sóc cẩn thận theo quy trình. Đặc biệt, ông đã tìm hiểu và biết cách phối trộn thức ăn cho đàn bò từ phụ phẩm nông nghiệp. Nguyên liệu gồm ngô, cám gạo, bã cá, tôm được phơi khô, nghiền nhỏ, sau đó trộn đều với chế phẩm sinh học đa năng 528 theo tỷ lệ: 60% cám ngô, 20% cám gạo, 10% bã cá hoặc tôm khô và 10% chế phẩm. Khi sử dụng, đàn vật nuôi lớn nhanh, béo khỏe, sức đề kháng tốt. Đến nay, nhiều hộ trong vùng cũng sử dụng loại cám này. Sẵn có máy móc, ông Thiều làm dịch vụ nghiền, trộn đáp ứng nhu cầu của bà con.

Sản xuất ra 1 kg thức ăn chăn nuôi loại này, chi phí khoảng 9,5 nghìn đồng, rẻ hơn 2 nghìn đồng so với cám công nghiệp trên thị trường. Ông Thiều cho biết: “Trước đây, tôi cho bò ăn rơm rạ khô và cỏ cùng với sử dụng cám “ăn thẳng” mua ở đại lý. Đàn vật nuôi lớn nhanh nhưng chi phí cao. Hai năm trở lại đây, nhờ trộn cám từ phụ phẩm nông nghiệp, gia đình tiết kiệm được khoản chi phí đáng kể, lợi nhuận cao hơn”.

Gia đình ông Nguyễn Văn Huyên, thôn Hàng Cơm, xã Việt Lập (Tân Yên) có gần 2 mẫu ruộng để cấy lúa, trồng ngô, lạc… Sau thu hoạch, sản phẩm nông nghiệp một phần nhỏ sử dụng để nuôi gia súc, gia cầm, còn lại ông bán cho thương nhân. Nhiều gia đình trong thôn cũng có từ 5 sào đến một mẫu ruộng trồng trọt nhưng hầu hết vẫn chăn nuôi bằng cám công nghiệp. Tháng 5 vừa qua, ông Huyên cùng một số hộ tham gia mô hình “Ứng dụng kỹ thuật sản xuất thức ăn chăn nuôi lợn tại hộ gia đình” do Trung tâm Ứng dụng tiến bộ Khoa học và Công nghệ (Sở Khoa học và Công nghệ – KH&CN) triển khai. Với các thành phần dễ  tận dụng như: Khô đậu nành, ngô, cám gạo, đậu tương, cá, chế phẩm sinh học…, ông đã biết cách chế biến thức ăn chăn nuôi bảo đảm vệ sinh, giúp vật nuôi mau lớn. Sau hơn 2 tháng sử dụng loại thức ăn mới, đàn lợn khỏe mạnh, da hồng hào, ít mắc bệnh, sản phẩm cung cấp ra thị trường bảo đảm an toàn.

Theo đánh giá và kiểm nghiệm thực tế của Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN, bà con khai thác nguồn nông sản của gia đình sản xuất cám nên mỗi kg sẽ tiết kiệm từ 1-2 nghìn đồng, nâng cao hiệu quả chăn nuôi. Từ những mô hình điểm, nhiều hộ đã ứng dụng thành công. Đây là giải pháp quan trọng hình thành vùng sản xuất an toàn, bền vững đáp ứng nhu cầu của thị trường.

Khuyến khích nhân rộng

Nhằm khai thác nguồn nguyên liệu tại chỗ cho chăn nuôi, ngành chức năng, chính quyền các địa phương có nhiều biện pháp khuyến khích chế biến, sản xuất cám an toàn. Ở huyện Yên Thế, Sở Nông nghiệp và PTNT phối hợp với Sở KH&CN, Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội thực hiện dự án sản xuất thức ăn chăn nuôi từ phụ phẩm nông nghiệp cho gà. Hơn 1 nghìn con gà ri lai ăn cám phối trộn từ phụ phẩm nông nghiệp phát triển tốt. Tại huyện Tân Yên, Hội Chăn nuôi lợn sạch Tân Yên cũng quan tâm tập huấn, hướng dẫn hội viên sản xuất cám từ phụ phẩm nông nghiệp.

Trao đổi với ông Nguyễn Đức Kiên, Giám đốc Sở KH&CN được biết, hiện nay trên thị trường có nhiều sản phẩm cám công nghiệp được quảng bá hấp dẫn với các chương trình khuyến mại. Tuy vậy, các loại thức ăn này giá cao, có trường hợp hàm lượng chất tăng trọng vượt mức cho phép, ảnh hưởng tới chất lượng nông sản. Vì vậy, bà con nên sử dụng thức ăn cho đàn vật nuôi tự chế biến. Khi trộn cám, người chăn nuôi cần nắm vững kỹ thuật, lựa chọn nguyên liệu bảo đảm chất lượng, xác định được nhu cầu tỷ lệ dinh dưỡng với từng loại vật nuôi ở các giai đoạn khác nhau.

Thời gian tới, Sở sẽ phối hợp với các cơ quan chuyên môn thường xuyên mở lớp tập huấn, hướng dẫn nông dân cách pha trộn cám giúp các hộ chăn nuôi chủ động sản xuất. UBND các huyện lập kế hoạch sản xuất, có cơ chế hỗ trợ, tuyên truyền thay đổi nhận thức của người dân. Các hợp tác xã chăn nuôi liên kết với doanh nghiệp tiêu thụ nông sản tăng cường quảng bá sản phẩm chăn nuôi an toàn từ sử dụng cám tự phối trộn, thúc đẩy chăn nuôi phát triển, nâng cao thu nhập cho nông dân.

> Theo Sở NN& PTNT, mỗi năm tỉnh ta có khoảng 150 nghìn ha cây trồng ngắn ngày, trong đó diện tích lúa khoảng 100 nghìn ha, còn lại là các loại rau màu. Đây là nguồn nguyên liệu có thể tận dụng làm thức ăn chăn nuôi, giảm phụ thuộc vào cám công nghiệp.

Nguồn: nguoichannuoi.vn

Nhật Bản: Sản lượng cá ngừ vằn tăng, giá giảm

Mấy tháng trước, vụ khai thác cá ngừ vằn của Nhật Bản khởi đầu không thuận lợi, sản lượng khai thác thấp. Nhưng một vài mẻ lưới của các tày lưới vây gần đây đã đảo ngược tình hình và hiện nay cá ngừ vằn trên thị trường đang dồi dào nên giá đã giảm xuống.

Khối lượng bán ra tại chợ bán buôn Tsukiji của Tokyo trong những ngày đầu tháng 5 ít hơn 20% so với cùng kỳ năm trước, và kích cỡ cá rất bé, chỉ từ 1,5 – 2kg. Cá bé có xu hướng bơi gần bờ biển, trong khi cá lớn hơn được tìm thấy ở những vùng biển sâu.

Giá bán buôn trung bình trong tháng 5/2016 ở mức 750 yên/kg (tương đương 7,31 USD/kg hay 6,50 EUR/kg), trong khi tại các siêu thị lớn ở Tokyo, sashimi cá ngừ được bán với giá từ 200 – 300 yên/100g (tương đương 1,96 – 2,93 USD, hay 1,76 – 2,64 EUR), gấp đôi năm ngoái.

Tuy nhiên, vào cuối tháng 6/2016, giá cá ngừ tại chợ Tsukiji giao dịch với mức 300 yên/kg (tương đương 2,95 USD/kg, 2,64 EUR/kg). So với tháng 5, giá đã giảm khoảng 60%. Thậm chí so với cuối tháng 6/2015, giá đã thấp hơn 30%. Các nhà bán lẻ đã giảm giá cá ngừ vằn xuống còn từ 100 – 200 yên/100g (0,98 – 1,96 USD, 0,88 – 1,76 EUR).

Lượng cập cảng tại Katsuurs, Chiba đã tăng lên, đạt 90% so với cùng kỳ năm trước. Trong khi đó, tại quận Miyagi, nlượng cập cảng đạt 456 tấn trong ngày 22/6.

Cá ngừ vằn là một loại cá quan trọng trong thực đơn đồ ăn Nhật. Cá ngừ được sấy khô và lên men, và chế biến thành món katsuobushi, một trong những thành phần quan trọng của món soup dashi. Nhưng cá ngừ vằn cũng được ăn theo nhiều cách khác, bao gồm cả sashimi và sushi. Món phổ biến nhất là takaki – làm cháy ở ngoài và sống ở trong.

Nguồn lợi cá ngừ vằn ở vùng biển Nhật Bản vẫn dồi dào. Trong tất cả các loài cá thịt đỏ được dùng để làm sushi và sashimi, cá ngừ vằn là loại được khai thác bền vững nhất.

(Theo seafoodsource)

Sản lượng bột cá, dầu cá năm 2016 sẽ ổn định

Bột cá biển, bột cá Ngừ sấy khô 55% độ đạm, 10% độ ẩm

Bột cá biển, bột cá Ngừ sấy khô 55% độ đạm, 10% độ ẩm

Theo Enrico Bachis, giám đốc phân tích tại Tổ chức Bột cá và Dầu cá Quốc tế (IFFO), nguồn cung bột cá toàn cầu năm nay được dự báo là gần như giữ nguyên so với năm ngoái là 4,5 triệu tấn.

Tại Diễn đàn thủy sản Bắc Đại Tây Dương (NASF), Bacchis cho rằng Peru vẫn giữ vị trí lớn nhất trong thị trường thức ăn chăn nuôi năm nay.

Nếu điều kiện khoa học và chính trị cho phép, Peru có thể đạt tổng hạn ngạch cá cơm là hơn 5 triệu tấn năm 2016. Trong đó, ở miền bắc/trung, vụ đầu đánh bắt hơn 2,5 triệu tấn, và vụ sau với 2 triệu tấn; ở miền nam mỗi vụ đạt khoảng 300.000 tấn.

Hạn ngạch đánh bắt của Chile ổn định với khoảng 1,4 triệu tấn.

Tuy nhiên, Scandinavia cho thấy một bức tranh hỗn hợp hơn. Tại Đan Mạch, lượng nguyên liệu dự trữ thấp hơn năm ngoái.

Bachis cho biết, tổng sản lượng được phép khai thác (TAC) đối với lươn cát (sand eel) vẫn chưa được quyết định, năm 2015 sản lượng lươn cát đạt 306.000 tấn. Tuy nhiên, Hội đồng Quốc tế về Khai thác Biển (ICES) đưa ra một TAC “rất thấp”.

Năm 2015, hạn ngạch lươn cát, cá trích cơm Đan Mạch, cá thoi và cá tuyết mắt nhỏ Na Uy để sản xuất bột cá lên đến 799.000 tấn.

Tại Na Uy, hạn ngạch cá tuyết lam giảm 44,6%, từ 498.173 tấn xuống 275.950 tấn và TAC cho cá thu giảm 19,7%. Năm 2016, TAC của Na Uy khoảng hơn 1 triệu tấn – không bao gồm lươn cát – giảm từ 1,47 triệu tấn năm 2015.

Iceland cũng giảm mạnh hạn ngạch đánh bắt. TAC cho cá ốt vảy (capelin) giảm 74,3% so với 2015 xuống còn 100.315 tấn, cá tuyết lam giảm 40,3% xuống còn 128.415 tấn. Đến nay, TAC của Iceland là 285.853 tấn (không gồm cá thu), giảm  828.285 tấn so với 2015.

Bột cá sản xuất từ Scandinavia năm 2016 dự tính đạt khoảng 400.000 tấn.

IFFO dự kiến sản lượng bột cá toàn cầu đạt khoảng 4.560.000 tấn.

Có cơ hội phát triển?

Theo Bachis, vai trò của các nhà cung cấp đang nổi như Ấn Độ, Việt Nam, Ecuador, Nga, Morocco, Mauritania, Mexico và những nhà cung cấp khác ngày càng quan trọng hơn. Mặc dù mức độ tham gia vào thị trường còn khá thấp, nhưng những nước này đang trên đà phát triển. Trong bối cảnh sản xuất giảm, thì các nước mới nổi sẽ đóng góp ngày càng nhiều.

Trong 10 năm (2006-2015), tỷ trọng của Peru và Chile trong sản xuất bột cá toàn cầu giảm từ 40% xuống 31%, trong khi những thị trường mới nổi tăng từ 35% lên 49%. Tỷ trọng sản xuất dầu cá của Peru và Chile trong những năm qua cũng giảm từ 49% xuống 38%, trong khi những thị trường mới nổi tăng từ 29% lên 38%

Theo IFFO, năm 2015 tổng sản lượng bột cá toàn cầu đạt 4,5 triệu tấn, sản lượng dầu cá đạt 851.000 tấn, cho thấy sự phát triển của bột cá và dầu cá trong tương lai.

Nguồn Vasep

%d bloggers like this: