Bột Cá Biển

Cơ sở sản xuất bột cá Nguyễn Thị Sậu cung cấp bột cá biển (Cá Ngừ) 55 đạm, không pha tạp chất. Tel: 0966 245 345

Monthly Archives: Tháng Hai 2012

Chuyển động tích cực bước đầu trong khai thác và xuất khẩu cá ngừ

Tháng đầu năm 2012, giá trị XK cá ngừ của Việt Nam sang các thị trường sụt giảm 12,4% với cùng kỳ năm 2011, đạt 32,548 triệu USD. Các sản phẩm cá ngừ, chủ yếu vẫn là cá ngừ tươi sống, đông lạnh mã HS03, đã được xuất sang 41 thị trường, Giá trị XK dòng sản phẩm này và các sản phẩm cá ngừ chế biến, đóng hộp mã HS06 đều giảm trong tháng này.

Chuyển động tích cực bước đầu trong khai thác và xuất khẩu cá ngừ

Chuyển động tích cực bước đầu trong khai thác và xuất khẩu cá ngừ

Điểm sáng trong số các thị trường NK cá ngừ từ Việt Nam trong tháng vừa qua là Tuynidi – một trong những thị trường chủ lực NK cá ngừ đóng hộp của Việt Nam. Tốc độ tăng trưởng của thị trường này trong tháng đầu năm 2012 lên tới hơn 521%, một con số “đáng kinh ngạc”. Tiếp đến là thị trường Xuđăng cũng có tốc độ tăng trưởng rất cao, đạt 356,6%. Giá trị XK cá ngừ của Việt Nam sang thị trường Xuđăng chỉ riêng trong tháng 1/2012 đã lớn hơn tổng giá trị XK cá ngừ sang nước này trong cả năm ngoái. Điều này đã khiến Xuđăng trở thành 1 trong 10 thị trường NK nhiều nhất cá ngừ của Việt Nam, trong đó chủ yếu là cá ngừ đóng hộp mã HS16.

Cũng trong tháng 1, thị trường NK cá ngừ của Việt Nam có tốc độ tăng trưởng ổn định nhất trong năm 2011 là Mỹ lại có dấu hiệu sụt giảm so với cùng kỳ năm ngoái, giảm tới 34%, đạt 14,476 triệu USD. Đặc biệt, giá trị XK các mặt hàng cá ngừ có giá trị cao mã HS03 (trừ các sản phẩm cá ngừ thuộc mã HS0304) sang thị trường này giảm tới hơn 47%.

Trong khối EU, thị trường NK nhiều nhất cá ngừ của Việt Nam trong năm qua là Đức cũng có dấu hiệu sụt giảm tuy không đáng kể. Với đà tăng giá nguyên liệu ở trong nước như hiện nay và thị trường NK cá ngừ thế giới khá nhạy cảm về giá nên tình hình XK sang thị trường này sẽ gặp khó khăn.

Ngược với thị trường Đức, thị trường Italia vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng cao ở mức 2 con số, đạt 85,2%. Như vậy, có thể thấy tại thời điểm hiện tại, cuộc khủng hoảng kinh tế không ảnh hưởng nhiều đến nhu cầu tiêu thụ cá ngừ của thị trường này. Một sự thay đổi đáng lưu ý là trong suốt năm vừa qua, Bỉ luôn là nước đứng thứ 3 về NK cá ngừ của Việt Nam trong khối thì sang tháng đầu năm nay đã lùi xuống vị trí thứ 8. Thay thế thị trường Bỉ là Hà Lan, thị trường luôn đứng ở vị trí thứ 6 trong cả năm 2011.

Thị trường Canađa cũng có dấu hiệu tăng trưởng cao do sự chuyển dịch trong tỷ trọng giá trị XK từ sản phẩm cá ngừ có giá trị thấp (mã HS16) sang sản phẩm có giá trị cá ngừ có giá trị cao (mã HS03).

Như vậy, nhìn chung mặc dù tổng giá trị XK cá ngừ của cả nước trong tháng 1/2012 giảm nhưng với những điều thấy được từ một số thị trường nói trên, có thể nói XK cá ngừ của Việt Nam thời gian tới vẫn sẽ khả quan.

Thêm vào đó, cũng đang có những chuyển động tích cực xung quanh vấn đề nguồn cá ngừ nguyên liệu trong nước. Việc giải quyết sự thiếu hụt sản lượng cá ngừ nguyên liệu trong nước do khâu tổ chức khai thác chưa hợp lý trong nhiều năm qua mặc dù ngành thủy sản đã thử nghiệm nhiều mô hình khai thác, giờ đây dường như đã có giải pháp.

Chiến lược phát triển thủy sản Việt Nam đến năm 2020 đã xác định hoạt động khai thác thủy sản phải được chuyển từ “nghề cá nhân dân” sang “nghề cá hiện đại”. Việc tổ chức sản xuất theo tổ đội, ngư đội và nghiệp đoàn là bước đột phá quan trọng trong khâu tổ chức lại sản xuất trên biển. Chuyển đổi từ phương thức làm ăn nhỏ lẻ, “mạnh ai nấy làm” sang hợp tác sản xuất trên biển, chủ trương này đã được ngư dân nhiều địa phương ủng hộ. Mô hình “tàu mẹ – tàu con” đang được đưa vào ứng dụng tại một số nơi đang được đánh giá là có hiệu quả cao. Trong điều kiện thực tế hiện nay, mô hình liên kết khai thác và tiêu thụ hải sản trên biển đang được thí điểm tại Phú Yên là phương thức tổ chức sản xuất tiết kiệm. Theo mô hình này, sẽ khép kín quy trình từ khai thác – thu mua – chế biến – XK hải sản, giúp nâng cao giá trị đánh bắt của ngư dân.

Hy vọng trong thời gian tới, mô hình này sẽ được nhân rộng ra các tỉnh trọng điểm về đánh bắt cá ngừ của nước ta. Vì theo đánh giá của các chuyên gia, đây sẽ là “cứu cánh” trước mắt cho các DN về vấn đề nguyên liệu cá ngừ cho chế biến khi vào tại thời điểm hiện tại, các chính sách về NK nguyên liệu chưa được “thông thoáng” đối với DN. Bên cạnh đó, do Việt Nam chưa phải là thành viên của Ủy ban Nghề cá Tây Trung Thái Bình Dương (WCPFC) nên ngư dân và các DN Việt Nam đã và đang vấp phải các rào cản về đánh bắt và XK sản phẩm vào một số thị trường. Điều này đồng nghĩa với việc tăng cường NK nguyên liệu vẫn rất cần thiết để đẩy mạnh hoạt động XK của ngành cá ngừ Việt Nam.

Nguồn: Vasep

Advertisements

Giá thức ăn thủy sản thế giới ngày càng biến động

Giá thức ăn thủy sản thế giới ngày càng biến động

Giá thức ăn thủy sản thế giới ngày càng biến động

Knut Nesse, Giám đốc Công ty cung cấp thức ăn thủy sản Skretting cho biết, giá nguyên liệu để chế biến thức ăn thủy sản năm nay có khả năng ngày càng biến động hơn bình thường. Trong 3 – 4 năm trở lại đây, giá nguyên liệu chế biến thức ăn thủy sản có nguồn gốc từ thực vật và từ biển biến động nhiều hơn so với 20 năm trước đây.

Theo ông Nesse, một trong những nguyên nhân cơ bản là do nguồn lợi và sản lượng khai thác thủy sản biến động theo từng năm, ảnh hưởng tới cung – cầu và làm giá nguyên liệu biến động theo.

Nhu cầu nguyên liệu có nguồn gốc từ biển cao hơn trước vì người mua ở Trung Quốc sử dụng nguyên liệu loại này để chế biến thức ăn cho lợn và gia cầm.

Sắp tới, tầng lớp trung lưu tăng nhanh ở Châu Á nên nhu cầu prôtêin cũng sẽ cao hơn. Những yếu tố này cộng lại đã gây áp lực lên giá nguyên liệu chế biến thức ăn thủy sản. Nhu cầu nguyên liệu sử dụng để sản xuất năng lượng sinh học (một lĩnh vực mới) cũng tăng. Thêm vào đó, các nhà đầu tư cũng tập trung hơn vào các lĩnh vực kinh doanh nguyên liệu thô.

Các yếu tố trên cho thấy, tình hình sản xuất thức ăn thủy sản ngày càng mang tính toàn cầu nên giá nguyên liệu biến động và khó dự đoán hơn.

Theo IntraFish

Năm 2011: Tăng cảnh báo của FDA về chế biến thủy sản

Năm 2011, Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA) đã tăng số thư cảnh báo đối với các công ty thủy sản, đặc biệt trong lĩnh vực chế biến. Từ cuối năm 2009, số thư cảnh báo chất lượng thủy sản bắt đầu tăng đáng kể, 42% trong năm 2009 – 2010, và 43% trong năm 2010 – 2011. Đặc biệt, các nhà chế biến thủy sản nội địa bị cảnh báo nhiều nhất.

Trong giai đoạn 2009 – 2011, không có công ty nào hoạt động trong lĩnh vực bảo quản trong kho, vận chuyển và bán lẻ bị cảnh báo, ngược lại có rất nhiều nhà chế biến và NK bất kể quy mô lớn nhỏ, trong đó một số là công ty sản xuất bánh mỳ, thuốc lá và thủy sản đóng hộp bị cảnh báo. Những tháng gần đây, còn có thêm cả những công ty sản xuất sandwiche cá ngừ và salat quy mô nhỏ hơn.

Cơ quan này thường cảnh báo công ty về một vi phạm tiêu chuẩn HACCP trong thủy sản và sau đó cảnh báo thêm những vi phạm khác.

Các công ty thường bị cảnh báo chủ yếu do chưa đáp ứng 3 vấn đề sau:

  • Thiếu kiểm soát nhiệt độ, đặc biệt đối với các loài thủy sản sinh histamin, thịt cua thanh trùng, thủy sản ướp lạnh bao gói chân không và các sản phẩm ăn liền;
  • Thiếu Kế hoạch HACCP: đặc biệt đối với sandwich cá ngừ và sushi;
  • Các nhà NK: thiếu các bước xác định và thẩm tra sản phẩm.

Ngoài ra, FDA còn tăng cường kiểm tra khuẩn Listeria trong quá trình thanh tra và gửi thư yêu cầu kiểm soát khuẩn này.

Hầu hết thư cảnh báo chỉ tham khảo Cẩm nang HACCP và quy định của FDA. Tuy nhiên, thư cảnh báo hiện nay có xu hướng thể hiện chính sách thanh tra mới hoặc chưa được biết đến nhiều của FDA. Tiêu biểu nhất là 2 loại thư cảnh báo trong năm 2009 – 2010 về lượng mạ băng hoặc sốt marinat đông lạnh ghi trên nhãn khối lượng tịnh của sản phẩm tôm. Hai cảnh báo này được đưa ra sau khi tiến hành kiểm tra và phát hiện vi phạm tại 17 bang của Mỹ.

Những thay đổi trong chính sách thanh tra của FDA (bao gồm cả việc mở rộng thẩm quyền ban hành thư cảnh báo cho các đơn vị thanh tra của FDA tại các bang) và tăng số lần thanh tra cũng như nhân viên thanh tra cũng là nguyên nhân để ban hành thêm nhiều thư cảnh báo.

Theo FDA, các cuộc thanh tra các cơ sở thực phẩm “có nguy cơ cao” tăng 13% trong năm 2009 – 2010. Trong năm 2011, FDA đặt mục tiêu thanh tra 7.800 cơ sở “có nguy cơ cao” và tăng thanh tra thực phẩm NK lên 438 cuộc so với 175 cuộc trong năm 2010.

Dự kiến năm nay sẽ tiếp tục tăng số lượng các cơ sở “có nguy cơ cao” bị thanh tra lên 8.850, vì vậy trong tương lai số thư cảnh báo của FDA sẽ còn tiếp tục tăng theo tinh thần của Đạo luật Hiện đại hóa An toàn thực phẩm (FSMA).

Tuy nhiên, theo quy định của FSMA, cơ quan này phải thanh tra ít nhất 1.200 cơ sở thực phẩm nước ngoài vào tháng 10/2012, tăng gấp đôi so với năm 2011. FDA cũng dự định tăng đánh giá các chương trình thanh tra nước ngoài từ 5 lên 9 lần trong năm nay.

Theo seafood.com

Mùa câu cá bông lau ở đồng bằng Cửu Long

Trên nhiều đoạn sông có hàng trăm ghe xuồng đua nhau thả lưới trôi theo dòng nước chờ cá dính lưới. Ban đêm, ghe rộn rịp, đèn phao đỏ rực, chớp nháy trên nhiều đoạn sông giống như những vì sao lấp lánh.

Cứ sau Tết nguyên đán, hoạt động đánh bắt cá bông lau dọc sông Tiền và sông Hậu sôi động hẳn lên, nhất là tại Phú Tân, Tân Châu, Chợ Mới (An Giang) và các đoạn chảy qua Lai Vung (Đồng Tháp), cù lao Tân Lộc (Cần Thơ), cù lao Mây (Vĩnh Long)…

Bông lau là loài cá da trơn, tên khoa học là Pangasius Krempfy, thuộc chi cá tra (Pangasius). Con to có thể nặng đến 15 kg, thân hình hao hao như cá ba sa, cá dứa nhưng dáng thon, dài, da trắng mịn, nổi bông phấn, khi gặp ánh nắng mặt trời màu sắc ánh lên như bông lau. Bông lau có hai loại, loại đuôi đỏ và đuôi vàng. Loại nào cũng thơm ngon, ít mỡ, thịt dẽ dặt, không tanh. Cá bông lau thuộc loài di trú và là đặc sản của dòng sông Mekong, hiện được xếp vào loại quý hiếm.

Cá bông lau trên sông Hậu thường rất to. Ảnh: Thiên Lộc
Cá bông lau trên sông Hậu thường rất to, trĩu tay em bé. Ảnh: Thiên Lộc

Nhiều lão ngư cho biết cá bông lau thích sống ở sông sâu, vịnh lớn, nhất là nơi giáp nước. Chúng thường kéo nhau thành bầy đi kiếm ăn vào thời điểm nước rong (ngày rằm hàng tháng và ngày 29-30 cuối tháng) lúc nước đứng dòng, sóng gợn lăn tăn, nhất là ban đêm, trời êm, ít tàu bè qua lại. Đặc biệt cá bông lau xuất hiện hiện nhiều nhất từ sau Tết cho đến tháng 3, tháng 4 âm lịch.

Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Nguyễn Hữu Hiệp cho biết, trước đây bà con ở Vàm Nao săn bắt cá bông lau bằng nhiều cách thức khác nhau: chài, lưới, câu cần và câu giăng, nhưng hiện nay đa số đều bắt bằng lưới vừa an toàn vừa có hiệu quả. Thông thường mỗi ghe lưới chỉ cần hai người, một người bơi và một người thả lưới. Mỗi tay lưới cá bông lau dài từ 300 đến 500 mét, dạo sâu khoảng 7 mét, tùy giăng sâu hay giăng cạn.

Dân nhà nghề chia lưới ra làm hai loại. Lưới đèn (có gắn đèn trên phao) dành bắt cá chạy luồng trên. Còn lưới ngầm thì cho lưới chìm sâu xuống nước, bắt được nhiều cá to. Thăm cá cũng là một điều thú vị, nếu lúc nào nước chảy mạnh thì thăm giờ một lần, còn nước chảy yếu thì giãn ra. Mỗi lần được cá to anh em phấn khởi thông báo cho nhau để cùng chia sẻ.

Cá dính lưới. Ảnh: Thiên Lộc
Gỡ cá dính lưới câu. Ảnh: Thiên Lộc

Nghề nào cũng có cái đạo của nó. Nghề lưới cá bông lau cũng vậy. Do bãi sông có hạn nên người nào đến trước thả lưới trước, tự nguyện ngồi chờ và tôn trọng lẫn nhau như anh em một nhà.

Anh Nguyễn Văn Thiện, một người đã từng gắn bó với nghề câu trên 10 năm tại Tân Châu cho biết: Cá bông lau thường sinh sống ở giữa dòng nên dây câu phải được giăng ngang sông, mỗi sợi dài khoảng một trăm mét, buộc 100 lưỡi cách khoảng đều nhau, cứ cách vài giờ thăm một lần. Mỗi địa phương đều có cách đánh bắt khác nhau, tùy theo kinh nghiệm của từng người. Tại An Giang, bà con câu cá bông lau bằng mồi gián, còn ở miệt Cù Lao Dung – Sóc Trăng thì lại câu bằng mồi bần.

Vào mùa này, tại một vài nơi như Bình Minh (Vĩnh Long), Trà Nóc, Thốt Nốt (Cần Thơ)… nhiều người câu không chuyên nghiệp cũng bơi xuồng ra các vàm sông để câu cá bông lau vừa giải trí vừa thu hoạch đáng kể.

Trước đây dòng sông yên tịnh, sản lượng cá nhiều, mỗi ghe xuồng có thể đánh bắt vài chục kg mỗi ngày. Gần đây do hoạt động đánh bắt ráo riết và tàu bè qua lại thường xuyên nên cá dần dần giảm đi. Muốn khai thác có hiệu quả các tay lưới phải nắm bắt quy luật về con nước, về đặc tính của từng loại cá. Anh Châu Tùng Hiếu, một tay câu nổi tiếng cho biết bí quyết của nghề câu cá sông là mồi. Cá bông lau rất thích mồi ruột gà, dán, dế cơm hoặc cá ủ; cá kết, cá duồn thích mồi mối núi; cá sửu thích mồi tép sống… Ngoài ra, các tay câu cũng phải biết cách thay đổi mồi để dụ được nhiều cá.

Nhiều ghe xuồng tập trung câu cá bông lau trên sông Tiền khi vào mùa đánh bắt sau Tết nguyên đán. Ảnh: Thiên Lộc
Nhiều ghe xuồng tập trung câu cá bông lau tại Trà Nóc (An Giang) khi vào mùa đánh bắt. Ảnh: Thiên Lộc

Nghề giăng lưới cũng đòi hỏi phải có tay nghề cao, cụ thể như giăng vào lúc nào, thời điểm nào, cá chạy theo luồng nào… Những ngư phủ lâu năm, giàu kinh nghiệm có thể quan sát mặt nước và bãi sông mà đoán biết đoạn sông đó cá nhiều hay ít để thả lưới. Đặc biệt, nghề câu là một nghề khai thác cổ truyền vừa bảo vệ được nguồn thủy sản, vừa bảo vệ môi trường sinh thái rất đáng khích lệ.

Theo anh Phạm Hồng Đức ở cù lao Tân Lộc, năm nay hầu hết các tay sát thủ cá bông lau đều phấn khởi vì được giá (100.000-120.000 đồng một kg). Bình quân một ghe lưới ra sông, mỗi đêm có thể kiếm từ 5 đến 10 kg. Gần đây Trung tâm quốc gia giống thủy sản nước ngọt Nam bộ đã nghiên cứu thành công việc sinh sản nhân tạo cá bông lau, mang lại nhiều triển vọng cho người nuôi.

Nguồn: Vnexpress

GlobalGAP yêu cầu phát triển bền vững nguồn bột cá và dầu cá

Sau khi tham khảo tư vấn của nhiều đối tượng trong ngành thủy sản, GlobalGAP đã kết thúc việc điều chỉnh các tiêu chuẩn sản xuất thức ăn thủy sản hỗn hợp. Yêu cầu sửa đổi tiêu chuẩn phiên bản 2.0, công bố năm 2010, đã được nhiều nhóm đối tượng đề xuất, bao gồm các nhà bán lẻ, các tổ chức chứng nhận, tổ chức phi chính phủ và các đại diện của ngành sản xuất thức ăn thủy sản.

Mẫu bột cá Ngừ độ đạm (55%), độ ẩm (10%)

Mẫu bột cá Ngừ độ đạm (55%), độ ẩm (10%)

Các ý kiến đề xuất này đã được Ủy ban Kỹ thuật về Chăn nuôi và Nuôi trồng thủy sản GlobalGAP thảo luận và thẩm định, sau đó được đưa ra lấy ý kiến cộng đồng.

Cụ thể, sẽ có thêm một mục mới có tên “Sử dụng có trách nhiệm nguồn lợi tự nhiên”, bao gồm 5 điểm kiểm soát với các tiêu chí tuân thủ chặt chẽ. GlobalGAP yêu cầu tìm hiểu về các giải pháp tích cực nhất để bảo vệ hệ sinh thái biển. Thông qua công tác nghiên cứu của Nhóm công tác kỹ thuật quốc gia Na Uy, GlobalGAP đã đưa ra các giải pháp mang tính thách thức và hiện đại cho vấn đề này. Hiện GlobalGAP đã bổ sung các tiêu chí về nguồn bột cá và dầu cá bền vững sử dụng để sản xuất thức ăn tổng hợp cho thủy sản nuôi và các loài động vật dạ dày đơn.

Phiên bản 2.1 đã được công bố từ tháng 12/2011, bắt đầu có hiệu lực từ tháng 1/2012 và sẽ bắt buộc thực hiện từ tháng 6/2012.

Nguồn: Vasep

Dây chuyền chế biến bột cá biển

Dây chuyền chế biến bột cá

Dây chuyền chế biến bột cá

Qui trình công nghệ:

Cá tươi nguyên liệu => Hấp chín lien tục => Vắt bớt nước liên tục => Sấy khô => Làm nguội lần 1 => nghiền mịn => Làm nguội lần 2 => Thành phẩm => Đóng bao => Bảo quản.

Thiết bị bao gồm:

– Công suất: 1 tấn/ h; 40 tấn/ngày
– Băng tải nạp liệu
– Phòng hấp liên tục bằng hơi
– Hệ thống sấy khô
– Hệ thống làm nguội
– Hệ hống nghiền mịn
– Lò hơi: 2.500 kg/h; P=10Kg
– Hệt hống đóng bao bằng thủ công hoặc bằng cân tự động

%d bloggers like this: