Bột Cá Biển

Cơ sở sản xuất bột cá Nguyễn Thị Sậu cung cấp bột cá biển (Cá Ngừ) 55 đạm, không pha tạp chất. Tel: 0966 245 345

Monthly Archives: Tháng Mười Hai 2011

Hiện tượng hư hỏng thường xảy ra trong bảo quản bột cá

1. Hiện tượng bột cá hút ẩm

Nguyên nhân bột cá hút ẩm:

  • Nhiệt độ bột cá lúc bao gói.
  • Hàm lượng muối trong bột cá.
  • Kích thước của bột cá: bột càng mịn thì bề mặt tiếp xúc càng lớn -> bột cá hút ẩm càng nhanh.
  • Độ ẩm không khí: càng cao thì bột cá càng dễ hút ẩm. Tuy nhiên, nguyên liệu chế biến khác nhau thì độ hút ẩm của bột cá cũng khác nhau.
  • Bột cá khi hút ẩm sẽ tạo điều kiện cho vi sinh vật phát triển. Vi sinh vật phát triển sẽ sản sinh ra chất dính làm cho bột cá bị kết thành từng cục và có thể làm cho bột cá biến thành trạng thái bũn.

Các biện pháp kỹ thuật hạn chế hiện tượng hút ẩm của bột cá:

  • Tiến hành bao gói khi bột cá đã nguội.
  • Dùng vật liệu chống ẩm để bao gói bột cá.
  • Kho chứa bột cá phải cao ráo, thoáng đãng.

2. Hiện tượng tự phát nhiệt của bột cá
Hiện tượng tự phát nhiệt của bột cá thường phát sinh trong bột cá có nhiều dầu như bột cá sản xuất từ cá hố, cá trích….Hiện tượng phát nhiệt của bột cá có thể xảy ra ngay sau khi vừa sản xuất xong cũng có khi phát sinh trong quá trình bảo quản nguyên liệu và vận chuyển.

Tự phát nhiệt của bột cá có thể phân thành 2 loại:

  • Tự phát nhiệt bình thường: Sau khi làm khô bột cá thì phát nhiệt chủ yếu là do dầu bị oxy hóa.
  • Tự phát nhiệt ngẫu nhiên: Nguyên nhân là do sự oxy hóa chậm của dầu, tức là trong quá trình sản xuất dầu chưa bị oxy hóa hết nên về sau trong quá trình bảo quản dầu tiếp tục bị oxy hóa. Mặt khác, có thể là do bột cá hút ẩm tạo môi trường thuận lợi cho vi sinh vật phát triển và nhiệt độ của bột cá tăng cao.

Bất kì nguyên nhân nào nhưng kết quả cuối cùng của nó là nhiệt độ của bột cá lên cao, có thể dẫn đến mức độ bốc cháy.

Bột cá sau khi tự phát nhiệt và trước lúc bốc cháy màu sắc sẫm lại, dần dần kết thành cục có màu nâu sẫm. Tuy nhiên, không thể từ màu sắc và mùi vị mà đánh giá thành phần dinh dưỡng của bột cá bị giảm sút, nhưng bột cá đã phát nhiệt thì tỷ lệ tiêu hóa của protêin giảm xuống rất nhiều.

* Các nhân tố ảnh hưởng đến sự tự phát nhiệt:

a. Thành phần của bột cá:

  • Thành phần của chế phẩm trước tiên quyết định ở hàm lượng dầu trong nguyên liệu, sau đó quyết định ở phương pháp sản xuất.
  • Trong bột cá lượng dầu có từ 5 – 12% mà trong dầu cá thành phần chủ yếu là acid béo không bão hòa, rất dễ bị oxi hóa. Bột cá có hàm lượng dầu cao thì dễ xảy ra hiện tượng tự phát nhiệt hơn bột cá ít dầu.

b. Oxy

  • Bột cá tự phát nhiệt nguyên nhân chính là do dầu bị oxy hóa do đó oxy trở thành nhân tố quyết định trong quá trình oxy hóa.
  • Để hạn chế sự tiếp xúc của bột cá với oxi không khí người ta bao gói kín bột cá.

c. Nhiệt độ

  • Cũng giống như tất cả những phản ứng hóa học khác, dầu trong bột cá oxy hóa cũng thay đổi theo nhiệt độ. Bột cá sau sản xuất 24 giờ, bảo quản ở 510C thì trong mỗi giờ nhiệt độ bột cá tăng lên chừng 50F, bảo quản sau vài tuần thì nhiệt độ bột cá tăng lên mỗi giờ là 0,90C.
Advertisements

Bí ẩn thức ăn cá tra

Trong các yếu tố quyết định đến chất lượng cá tra, chất lượng thức ăn là yếu tố hàng đầu. Tổng cục Thủy sản cho biết, hiện cả nước có 98 nhà máy sản xuất thức ăn cá tra và người nuôi cá đã phải chịu nhiều thiệt hại do chất lượng thức ăn giảm (đạm tiêu hóa thấp) dẫn đến chất lượng cá nuôi giảm, kéo dài thời gian nuôi.

Thả thức ăn cho cá

Thả thức ăn cho cá

Về tỷ lệ đạm trong thức ăn cá tra, ông Dương Ngọc Minh, TGĐ Công ty Cổ phần Hùng Vương, đưa ra phân tích đáng chú ý. Hiện nay, tỷ lệ đạm ghi trên bao bì còn khác xa với tỷ lệ đạm con cá tiêu hóa được, thường đạm tiêu hóa chỉ từ 80% đến 93% lượng đạm ghi trên bao bì. Nếu tỷ lệ đạm tiêu hóa thấp, phải cho cá ăn nhiều hơn và thời gian nuôi cũng dài hơn 1-2 tháng, người nuôi thiệt đơn thiệt kép. Trên thị trường hiện có nhiều loại thức ăn cá tra, với độ đạm từ 22% đến 28%. Mỗi độ đạm trên bao bì ấy lại có nhiều công thức chế biến để có nhiều độ đạm tiêu hóa khác nhau. Chẳng khác gì một mê hồn trận. Đại diện nhiều doanh nghiệp sản xuất cá tra cũng kêu trời, không kể nông dân hay hợp tác xã. Bức xúc hơn nữa là giá thức ăn cho cá tra liên tục tăng, hiện đã tăng 10% so với đầu năm 2011 và tăng 30-40% so với cùng kỳ năm 2010. Các nhà máy sản xuất thức ăn cá tra đưa ra nhiều giải thích khác nhau. Tuy nhiên, Tổng cục Thủy sản cho rằng, các giải thích chưa thỏa đáng khi giá nguyên liệu để sản xuất thức ăn trên thị trường trong và ngoài nước đã giảm đáng kể.

Giá cá tra giảm, nhưng giá thức ăn liên tục tăng, cộng với chất lượng thức ăn hiện gần như bị thả nổi, khiến con cá tra và người nuôi cá có thể gặp rủi ro bất cứ lúc nào. Bởi người nuôi không thể kiểm soát được trong thức ăn cho cá họ mua về có những chất gì, mà chất lượng cá lại phụ thuộc vào thức ăn. Nếu không được kiểm soát chất lượng, cá tra Việt Nam, dù đang là thương hiệu lớn, nhưng có thể mất thị trường bất cứ lúc nào.

(Theo báo Tiền Phong)

ĐBSCL: Giá thức ăn gây khó người nuôi cá

Từ đầu năm đến nay, giá thức ăn nuôi cá tra ở ĐBSCL tăng 10% và cao hơn cùng kỳ từ 30 – 40%.

Riêng thức ăn cá tra 28 độ đạm đang được các doanh nghiệp chế biến thức ăn bán với giá dao động từ 10.500 – 12.000 đồng/kg, tăng 35% so với cùng kỳ. Giá thức ăn tăng tùy tiện và liên tục, mặc dù giá nguyên liệu trên thế giới đã giảm.

Ông Nguyễn Việt Thắng – Chủ tịch Hội Nghề cá Việt Nam cho rằng: “Trong nuôi cá tra thì thức ăn chiếm tới 80% giá thành. Trong thời gian qua, quản lý nhà nước đã bỏ qua những doanh nghiệp sản xuất thức ăn dẫn đến giá tăng liên tục. Vì vậy đã ảnh hưởng rất lớn đến người nuôi cá tra”.

Khi giá thức ăn tăng, người nuôi nhỏ lẻ là người chịu thiệt thòi nhiều nhất. Ông Dương Ngọc Minh – Tổng Giám đốc Công ty CP Thủy sản Hùng Vương, tính toán: “Hiện nay, người nuôi cá tra nhỏ lẻ phải mua thức ăn từ đại lý cao hơn so với các doanh nghiệp lớn, nông dân có vốn khoảng 20%. Vì vậy, giá thành của hộ dân nuôi nhỏ lẻ lên đến 24.000đồng/kg. Trong khi doanh nghiệp có vốn, lấy thức ăn trực tiếp, được miễn thuế VAT nên giá giảm xuống còn từ 20.000 – 21.000 đồng/kg”. Đây cũng chính là nguyên nhân, người nuôi cá tra nhỏ, lẻ ở ĐBSCL ngày càng “chết” dần.

Theo tiến sĩ Dương Nghĩa Quốc – Giám đốc Sở NN&PTNT Đồng Tháp: “Toàn bộ diện tích thả nuôi ở tỉnh thì diện tích của các doanh nghiệp chiếm tới 70%; gần 30% còn lại là hộ nông dân có vốn lớn để đầu tư và hộ nuôi nhỏ lẻ. Trong đó, hộ nuôi nhỏ, lẻ gần như không còn như trước. Họ đang co cụm và từ từ biến mất”.

Nhiều hộ nuôi nhỏ lẻ đã chuyển qua nuôi gia công cho doanh nghiệp. Nông dân Nguyễn Văn Hùng – ở huyện Châu Phú, tỉnh An Giang, tính toán: “Những người nuôi nhỏ, lẻ như tui phải chuyển qua nuôi gia công hoặc phải “treo” ao để chuyển sang làm nghề khác…”.

(Theo báo Dân Việt)

Thay thế bột cá bằng bột đậu nành làm thức ăn cho cá lóc bông

Nguồn: Trần Thị Thanh Hiền (Khoa Thủy sản – Đại học Cần Thơ), Lê Quốc Toán, Trần Thị Bé, Nguyễn Hoàng Đức Trung, David Bengtson

Tóm tắt

Mẫu bột cá Ngừ độ đạm (55%), độ ẩm (10%)

Mẫu bột cá Ngừ độ đạm (55%), độ ẩm (10%)

Trong chế biến thức ăn thủy sản, bột cá được xem là nguồn protein tốt nhất. Tuy nhiên, sản lượng bột cá ngày càng khan hiếm, giá thành ngày càng tăng nên giá thành thức ăn cũng tăng cao, làm ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của người nuôi. Hiện nay có nhiều nghiên cứu về việc thay thế bột cá bằng các nguồn protein thực vật rẻ tiền so với bột cá.. Kết quả nghiên cứu cho thấy khi sử dụng bột đậu nành hoặc kết hợp bột nành với các nguồn protein khác có thể thay thế bột cá dao động từ 30-75% khi làm thức ăn cho một số loài cá như cá đù (Nibea miichthioides), cá tráp mõm nhọn (Diplodus puntazzo), cá da trơn Nam Mỹ (Silurus meridionalis), cá chỉ vàng (Lutjanus argentimaculatus) và cá rô phi vằn giống (Oreochromis niloticus). Đối với cá lóc giống (Channa striata) khi thay thế protein bột cá bằng protein bột đậu nành trong công thức thức ăn thì khả năng thay thế đạt 30% (Trần Thị Thanh Hiền, 2008).

Nghiên cứu được tiến hành để xác định khả năng thay thế protein bột cá bởi protein bột đậu nành, có bổ sung enzym phytase làm thức ăn cho cá lóc bông. Nghiệm thức thức ăn đối chứng với nguồn cung cấp protein là bột cá, 4 nghiệm thức còn lại có mức protein bột cá được thay thế bởi protein bột đậu nành lần lượt là 20%, 30%, 40%, 50% và có bổ sung 0,02% phytase. Cá lóc bông giống chọn làm thí nghiệm có khối lượng từ 4-5g/con, được bố trí ngẫu nhiên trong 15 bể (100 lít/1bể), với mật độ 25 con/bể. Cá được cho ăn theo nhu cầu, 2 lần trên ngày. Sau 8 tuần thí nghiệm, thì cá nuôi ở các nghiệm thức không có sự khác biệt về tỷ lệ sống (từ 77,3% đến 80%). So với nghiệm thức đối chứng và các nghiệm thức có bột đậu nành thay thế ở mức 20%, 30%, 40% thì không có sự khác biệt về tăng trưởng của cá, hệ số thức ăn, hiệu quả sử dụng protein. Còn nghiệm thức 50% bột đậu nành thay thế bột cá thì có khác biệt khi so sánh về các chỉ tiêu trên, trừ hệ số thức ăn. Kết quả cũng cho thấy rằng không có sự khác biệt về thành phần protein trong cơ thể cá ở các thí nghiệm khi tăng mức bột đậu nành. Về mặt kinh tế, ở mức thay thế 40% bột đậu nành cho bột cá làm thức ăn cho cá lóc bông thì giảm chi phí thức ăn/1kg và chi phí thức ăn/1kg cá tăng trọng lần lượt là 10.8% và 4.83%.

(Kết quả nghiên cứu được hỗ trợ từ dự án AquaFishCRSP-TrashFish)

%d bloggers like this: