Bột Cá Biển

Cơ sở sản xuất bột cá Nguyễn Thị Sậu cung cấp bột cá biển (Cá Ngừ) 55 đạm, không pha tạp chất. Tel: 0966 245 345

Bột cá, dầu cá không hạn chế NTTS bền vững

Mặc dù có không ít dự báo về những nguy cơ khi sử dụng bột cá và dầu cá trong NTTS, nhưng nhiều bằng chứng lại cho thấy mặc dù sản lượng bột cá và dầu cá không hê tăng, nhưng giá của chúng vẫn ở mức tương đốii bình ổn so với các nguyên liệu thay thế khác.

Với những thuộc tính dinh dưỡng có một không hai của mình, dầu cá và bột cá luôn là những sản phẩm đắt khách trong suốt chiều dài lịch sử phát triển NTTS. Bột cá và dầu cá không chỉ là thức ăn cho các loài cá ăn động vật mà còn cho cả các loài ăn thực vật trong thời kỳ ương giống. Hầu hết các loài cá và giáp xác sống nhờ động vật phù du khi còn nho, do vậy chúng có một nhu cầu rất lớn đối với protein và các axit béo thiết yếu, nhu cầu này có thể dễ dàng đáp ứng bởi các thành phần thức ăn gốc biển.

Khi phương thức NTTS thâm canh mới ra đời trong những năm 1960-1970, bột cá và dầu cá đang được dùng chủ yếu làm thức ăn cho động vật trên cạn và chất béo làm tác nhân hydro hoá trong sản xuất bơ thực vật. Song khi hiểu rõ hơn đặc tính dinh dưỡng của thịt gia cầm và lợn, người ta chuyển sang tiêu thụ bơ thực vật nhiều hơn, vì thế ngành NTTS đang phát triển có cơ hội lớn hơn để tiếp cận nguồn cung bột cá và dầu cá.

Theo thời gian, NTTS ngày càng tiêu thụ nhiều bột cá và dầu cá, hiện nay chiếm khoảng 60% tổng mức tiêu thụ bột cá và 80% tổng mức tiêu thụ dầu cá của thế giới. Xu hướng này cộng với tình trạng tăng giá của cả hai loại nguyên liệu khiến người ta nghĩ đến 2 khả năng: (1) trong tương lai, tốc độ phát triển NTTS bị hạn chế vì thiếu bột cá và dầu cá; (2) nguồn lợi biển sẽ bị khai thác cạn kiệt để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của NTTS.

Song, nhìn lại năm 1960, khi mà 99% sản lượng bột cá (3 triệu tấn/năm) dùng cho ngành chăn nuôi gia cầm và lợn, người ta cũng từng nghĩ là sự tăng trưởng của ngành này sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng do thiếu bột cá. Thế nhưng, sự việc không xảy ra như dự đoán. Ngành chăn nuôi gia cầm, gia súc vẫn phát triển (nay lớn gấp 10 lần thời điểm đó) trong khi sản lượng bột cá chỉ tăng lên mức 5 triệu tấn.

Còn ngành NTTS thì sao? Giả sử khu vực chăn nuôi gia súc, gia cầm vẫn tăng trưởng thoải mái và hoạt động khai thác vẫn nằm trong tầm kiểm soát thì liệu ngành NTTS có khác không?

NTTS : một lĩnh vực “đa ngành”

Không giống như ngành chăn nuôi lợn, ngành NTTS không chỉ là một ngành với một vật nuôi duy nhất. Mức độ “đa loài” trong NTTS thể hiện ở sự khác biệt về tỷ lệ tiêu thụ bột cá và dầu cá giữa các loài (H. 1). Mỗi “phân ngành” trong ngành NTTS có những điểm riêng về nhu cầu dinh dưỡng, tập quán cho ăn, hạn chế môi trường, nguồn cung nguyên liệu thức ăn, giá cả thị trường, thị hiếu người tiêu dùng.

Nhu cầu bột cá và dầu cá của ngành NTTS tăng trưởng đều đặn trong 8 năm qua (H.2). Cũng trong khoảng thời gian đó, mức tiêu thụ bột cá cho NTTS tăng dần đến khoảng 3 triệu tấn – vào năm 2004, nhưng từ sau đó chỉ tăng rất ít. Với dầu cá, mức tiêu thụ hằng năm cho NTTS giữ ở mức 0,7 – 0,8 triệu tấn/năm trong vòng 8 năm đó.

Các nguyên liệu thay thế

Sự ổn định mức tiêu thụ bột cá có được là nhờ việc sử dụng ngày càng nhiều nguyên liệu thay thế. Chẳng hạn, sản lượng cá hồi trong vòng 8 năm qua tăng 50%, từ 1,6 lên 2,4 triệu tấn/năm (+50%), nhưng tỷ lệ bột và dầu cá trong khẩu phần ăn của loài này lại giảm, dẫn tới mức tiêu thụ bột cá cho nuôi cá hồi chỉ tăng từ 0,78 lên 0,92 triệu tấn/năm (+18%) và dầu cá từ 0,53 triệu tấn lên 0,58 triệu tấn/năm (+9%).

Việc tăng hay giảm tỷ lệ một nguyên liệu trong thức ăn phụ thuộc vào giá trị dinh dưỡng và giá của nguyên liệu đó so với các nguyên liệu khác. Giá trị dinh dưỡng gắn với nhu cầu của vật nuôi và với bản thân nguyên liệu đó, còn giá thì do điều kiện thị trường quyết định.

Như trường hợp gia cầm và lợn, người ta đã tìm ra được những nguyên liệu rẻ hơn để thay thế bột cá. Điểm khác biệt lớn giữa thức ăn cho nông nghiệp và thức ăn cho NTTS là thức ăn cho NTTS phải có nhiều protein hơn, một phần vì động vật thuỷ sinh hấp thu các chất cacbon hydrat rất kém. Do không tiêu thụ nhiều cacbon hydrat nên rất nhiều loại thực vật không thể sử dụng để làm thức ăn cho cá. Loại nguyên liệu hay thay thế bột cá nhất trong NTTS là bột đậu tương.

Tăng trưởng NTTS

Các bài báo khoa học gần đây liên tục đưa ra những nhận định kiểu 1+1 = 2 về bột cá, như giá bột cá tăng sẽ hạn chế tốc độ tăng trưởng của NTTS. Hình 3 cho thấy giá của cả bột cá và đậu tương đều tăng trong 10 năm qu,a tuy giá bột cá có đắt hơn. Nhưng đáng chú ý hơn là bảng thứ 2, thể hiện tỷ lệ chênh lệch giá của hai nguyên liệu đó. Do có hàm lượng protein cao hơn và không chứa nhiều chất kháng dưỡng nên giá bột cá thường cao gấp 3 lần giá bột đậu tương. Năm 2006, giá bột cá tăng mạnh và tỷ lệ chênh lệch giữa giá bột cá và bột đậu tương lên đến 6:1.

Tốc độ tăng đột ngột này kéo theo sự thay đổi trên diện rộng về tỷ lệ sử dụng bột cá và bột đậu tương trong thức ăn nuôi thuỷ sản. Giá bột cá sau đó lại tụt dốc không phanh trong khi giá đậu tương tăng. Kết quả là trong 18 tháng qua, tỷ lệ chênh lệch giá giữa 2 nguyên liệu này thậm chí còn thấp hơn tỷ lệ lịch sử 3:1.

Qua đó, có thể thấy không có bằng chứng nào chứng minh một mình giá bột cá có thể thể hạn chế NTTS phát triển. Đúng hơn phải là giá tất cả các nguyên liệu làm thức ăn thuỷ sản tăng trong thời gian gần đây đã làm giảm lợi nhuận nuôi và theo đó hạn chế tốc độ tăng trưởng của ngành này.

Dầu cá

Vì tỷ lệ dầu cá sử dụng trong NTTS lớn hơn bột cá nên nhiều người nói trong tương lai, dầu cá chứ không phải bột cá mới là “bẫy” hạn chế tăng trưởng. Nguyên liệu sử dụng thay dầu cá phố biến nhất trong NTTS là dầu hạt cải. Hình 4 phản ánh xu hướng và tỷ lệ chênh lệch giá giữa hai loại dầu này.

Năm 2002, dầu cá đắt hơn dầu hạt cải nhiều, nhưng xu hướng sử dụng dầu hạt cải thay dầu cá đã đẩy giá dầu cá xuống thấp hơn giá dầu hạt cải trong một thời gian dài. Năm 2008, giá của cả hai loại lại tăng vọt nhưng giá dầu cá tăng nhanh hơn. Kết quả là dầu hạt cải được dùng để thay thế và giá dầu cá giảm xuống mức kỷ lục (=1/2 giá dầu hạt cải). Không thấy bằng chứng nào cho thấy giá dầu cá tăng vì cung thiếu.

Hầu hết các loài cá, trong đó có cá hồi, không đòi hỏi phải có nhiều hàm lượng axit béo thiết yếu trong dầu, do đó dầu cá có thể dễ dàng bị thay thế bằng nguyên liệu khác nếu giá tăng quá cao. Tăng trưởng của cá nhìn chung không bị ảnh hưởng, nhưng hàm lượng axit béo thiết yếu trong cá thành phẩm sẽ thấp đi. Điều này có ý nghĩa không nhỏ nếu cá được bán ở những thị trường quan tâm nhiều đến các chất này.

Tóm lại, số liệu cho thấy tuy sản lượng bột cá và dầu cá không tăng nhưng giá vẫn giữ tương đối ổn định so với các nguyên liệu thay thế. Ngoài ra, khối lượng bột cá và dầu cá sử dụng cho NTTS mấy năm qua không thay đổi, trong khi sản lượng NTTS vẫn tăng đều.

Nghề cá bền vững

Vấn đề mấu chốt nhất mà ngành sản xuất bột cá và dầu cá đang phải đối mặt là làm sao để chứng minh được là nguồn nguyên liệu chính để sản xuất ra chúng – các loài cá nổi – được khai thác một cách bền vững. Khai thác ở đây có 2 cách, một là khai thác nguồn lợi tự nhiên cho đến khi cạn kiệt, và hai là khai thác nhưng vẫn duy trì số lượng cần thiết để nguồn lợi có thể phục hồi được.

Đặc thù của các loài cá nổi là vòng đời ngắn, sinh trưởng nhanh nên có thể dùng cách khai thác “duy trì”. Sản lượng cá nổi luôn cao trong nhiều thập kỷ là minh chứng cho việc này. Tuy nhiên, cũng có những trường hợp buông lỏng quản lý và một số loài cá bị khai thác cạn kiệt. Vì vậy, ngành bột cá và dầu cá phải làm cho khách hàng và những bên liên quan yên tâm, rằng bột cá sử dụng trong NTTS bắt nguồn từ những nghề cá có trách nhiệm.

Chương trình nguồn cung bền vững toàn cầu

Với sự giúp đỡ của nhiều bên tham gia, trong đó có Liên minh NTTS Toàn cầu, Tổ chức Dầu cá và Bột cá Quốc tế đã triển khai xây dựng Chương trình Nguồn cung Bền vững. Đây là một tập hợp các tiêu chuẩn do bên thứ 3 đánh giá nhằm chứng nhận cho những nhà sản xuất bột cá và dầu cá là : (1) sản phẩm của họ sử dụng nguồn nguyên liệu của những nghề cá được quản lý đúng với Quy tắc ứng xử về nghề cá có trách nhiệm của FAO; (2) không sử dụng nguyên liệu bị khai thác trái phép, không báo cáo, không quản lý (IUU); (3) nhà máy chế biến áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng để đảm bảo sản phẩm không nhiễm bẩn.

Những hồ sơ xin chứng nhận đầu tiên của chương trình này đang trong quá trình đánh giá. Nhiều nhà sản xuất cũng như những bộ phận khác trong chuỗi giá trị tỏ ra rất quan tâm bởi những hệ thống chứng nhận kiểu này là một cơ sở để ngành NTTS chứng minh rằng sản phẩm của mình được sản xuất bền vững, đồng thời cho phép ngành tiếp tục tăng trưởng một cách bền vững.

Thái Thanh Phương dịch
Global Aquaculture Advocate,
Tháng 1-2/2010

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: