Bột Cá Biển

Cơ sở sản xuất bột cá Nguyễn Thị Sậu cung cấp bột cá biển (Cá Ngừ) 55 đạm, không pha tạp chất. Tel: 0966 245 345

Monthly Archives: Tháng Mười Một 2011

Lý Sơn: Bắt được cá nạng nặng hơn 2 tấn

Đây là con cá nạng nặng nhất từ trước đến nay mắc lưới bà con ngư dân Lý Sơn (Quảng Ngãi), chủ tàu phải thuê xe cẩu để đưa nó vào bờ.

Con cá Nạng được cẩu từ tàu lên bờ

Con cá Nạng được cẩu từ tàu lên bờ

Sáng ngày 29-11, trong lúc đang đánh bắt hải sản ven đảo Lý Sơn, tàu cá của ngư dân Nguyễn Kiểu, ở thôn tây xã An Vĩnh, huyện Lý Sơn đã bắt được một con cá nạng có trọng lượng trên 2 tấn.

Theo các ngư dân đi trên tàu cho biết, để bắt được con cá này, họ đã phải vật lộn với nó suốt gần 3 giờ trên biển. Đây là con cá nạng có trọng lượng lớn nhất từ trước nay bị mắc lưới của bà con ngư dân.

Để đưa được con cá từ tàu lên bờ, ông Kiểu đã phải thuê xe cẩu, hiện con cá trên đã được một đại lý tại địa phương thu mua để chuyển vô đất liền tiêu thụ với giá thỏa thuận.

Nguồn: Báo Người Lao Động
Advertisements

QUY TRÌNH CHẾ BIẾN BỘT CÁ VÀ DẦU CÁ CƠ BẢN

Sơ đồ quy trình chế biến bột cá

Sơ đồ quy trình chế biến bột cá

Về nguyên tắc, quá trình sản xuất bột cá và dầu cá chỉ đơn giản hàm ý sự tách tốt nhất có thể của 3 thành phần chính tự nhiên của nguyên liệu:

– Phần dầu
– Phần rắn
– Phần nước

Thành phần đặc trưng của loại cá công nghiệp như cá mòi nạc (lean sardine), gồm 6% dầu, 18% chất rắn và 76% nước. Sản lượng sản xuất trung bình ước tính từ nguyên liệu này bằng cách xử lý thông thường là 21,9% bột và 4% dầu. Do đó, cho mỗi tấn nguyênliệu, 219 kg bột và 40 kg dầu được chiết xuất bằng sự kết hợp của các công nghệ khử dầu và khử nước cơ học và nhiệt. Cần phải nhấn mạnh rằng sản lượng tốt nhất có thể, bên cạnh việc quan trọng cho tính khả thi tổng thể, là rất quan trọng trong việc ngăn chặn ô nhiễm bởi nồng độ chất béo và chất rắn trong chất thải. Với quan điểm này, nguyên liệu chất lượng cao đóng một vai trò quan trọng. Điều này có tầm quan trọng cao nhất trong việc lập kế hoạch cung cấp, xử lý và các phương tiện lưu trữ và bảo quản nguyên liệu.

Bản cân bằng khối lượng kèm theo cho thấy một hệ thống xử lý chế biến bột cá và dầu cá thông thường, dựa trên khái niệm thu hồi hoàn toàn. Từ bảo quản bên ngoài, nguyên liệu được cấp vào lò nấu để gia nhiệt gián tiếp và làm đông các protein. Mặc dù được xem như một bước xử lý không cao, đây là bước quan trọng nhất trong toàn bộ quá trình khử nước.

Bước tiếp theo, sau khi lọc sơ bộ trung gian nguyên liệu đông, sự khử nước cơ học, thường được tiến hành bởi các máy ép vít đôi quay chậm. Phần rắn từ máy ép vít đôi này được chuyển trực tiếp đến giai đoạn nhiệt cuối, (các) máy sấy. Phần chất lỏng cùng với chất lỏng từ bộ lọc sơ bộ, được tiếp tục tách trong các bước khác nhau của các máy ly tâm.

Bộ lọc sơ bộ và máy ép chất lỏng có chứa các nguyên liệu rắn lơ lửng và hòa tan, ngoài dầu. Các chất rắn lơ lửng bị loại bỏ khỏi chất lỏng này bởi một máy ly tâm lắng gạn và được trộn với phần rắn từ một máy ép vít trước giai đoạn sấy khô.

Bước tiếp theo là khử dầu của máy lắng gạn chất lỏng. Bước này được tiến hành bởi các máy tách ly tâm tốc độ cao trong một, hai hoặc ba bước tùy thuộc vào nguyên liệu và các điều kiện xử lý. (Các) phần dầu cuối cùng được làm nguội để bảo quản với nhiệt độ dưới 40°C.

Phần nước từ máy tách chính vẫn chứa khoảng 10% chất rắn hòa tan. Phần chất lỏng này, nước dịch ép, được cô đặc trong một máy bay hơn đa tác động lên đến khoảng 35% hàm lượng chất rắn, trước khi được trộn với bã ép và bùn lắng gạn trước khi sấy.

Quá trình sấy khô thường được xem như phần khó nhất của quy trình. Các giải pháp công nghệ ở giai đoạn này thực sự là yếu tố phân biệt giữa các nhà sản xuất chất lượng cao và chất lượng thấp. Ngày nay, các máy sấy bằng lửa trực tiếp đời cũ đang dần biến mất. Các loại máy chiếm ưu thế hiện nay là các máy sấy hơi gián tiếp và/ hoặc không khí nóng trực tiếp hay các máy sấy chân không (hơi nước quá nhiệt). Trong các hệ thống công suất lớn, các máy sấy hơi nước thường được sử dụng như các máy sấy sơ bộ kết hợp với các máy sấy không khí nóng/ không có không khí như giai đoạn cuối. Sự kết hợp này cho phép giảm năng lượng tiêu thụ và mang lại chất lượng cao cho sản phẩm bột cá.

Sự tiêu thụ năng lượng điển hình từ một quy trình với cấu hình máy sấy theo mẻ như vậy là khoảng 35 kg dầu nhiên liệu trên mỗi tấn nguyên liệu. Về lượng điện tiêu thụ điển hình, mức trung bình là khoảng 30 – 40 kWh trên mỗi tấn nguyên liệu.

ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG

Sản phẩm bột cá ngừ và dầu cá ngừ thô của chúng tôi phải trải qua các cuộc kiểm tra chất lượng cùng với phân tích phòng lab theo từng lô hàng xuyên suốt cả quá trình sản xuất.

Thành phẩm được lấy mẫu thường xuyên để kiểm nghiệm ngoại quan và cảm quan. Vệ sinh nhà máy được kiểm soát chặt chẽ cùng với một chương trình vệ sinh toàn bộ dây chuyền mỗi ngày.

Nhạc ráp seagame bóng đá Việt Nam – Ca sĩ Cáp Anh Tài

Chào bán Bột cá Ngừ sấy khô độ đạm 55% độ ẩm 10%

Mẫu bột cá Ngừ độ đạm (55%), độ ẩm (10%)

Mẫu bột cá Ngừ độ đạm (55%), độ ẩm (10%)

Cơ sở sản xuất Bột cá Dương Quang cung cấp Bột cá Ngừ sấy khô với độ đạm 55%, độ ẩm 10% , giá cạnh tranh. Bột cá Ngừ được sản xuất từ 100% nguyên liệu cá Ngừ không pha tạp chất.

Chúng tôi giao hàng tận nơi khu vực ĐBSCL, Tp.Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai… Quý khách ai có nhu cầu mua xin liên hệ số điện thoại bên dưới.

Trân trọng và chúc sức khỏe.

Miss Liên
Tel: 0989.22.30.32
Email: fleohau@gmail.com

Giá thức ăn chăn nuôi trong tháng 10 đa số đều tăng nhẹ

Theo báo cáo từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, giá thức ăn chăn nuôi trong tháng 10 đa số đều tăng nhẹ so với thời điểm tháng 9; Giá ngô, khô dầu đậu tương, bột cá… đều tăng trên 2,8%, chỉ có giá sắn lát giảm, giá thức ăn hỗn hợp cho lợn thịt không có biến động.

Giá ngô trong tháng 10 ở mức 7.507,5 đồng/kg (tăng 2,8%), khô dầu đậu tương 10.710 đồng/kg (tăng 5%), bột cá 21.000 đồng/kg (tăng 4%), cám gạo 7.350 đồng/kg (tăng 6,5%), sắn lát khô 6.090 đồng/kg (giảm 4,8%), Methionine 120.750 đồng/kg (tăng 2,3%) và Lyzin 60.900 đồng/kg (tăng 6,8%).

Giá thức ăn chăn nuôi thành phẩm không đổi. Trong đó, thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh gà Broiler trên 10.678 đồng/kg, thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh lợn thịt giai đoạn từ 60kg đến khi xuất chuồng khoảng 9.470 đồng/kg.

Trước đó, để đẩy mạnh sản xuất, đảm bảo cung ứng thực phẩm, bình ổn giá thị trường, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã chỉ đạo Bộ Tài chính “Xem xét miễn giảm thuế nhập khẩu đối với ngô, lúa mì chuyên dùng sản xuất thức ăn chăn nuôi”.

Tuy nhiên quan điểm của Bộ Tài chính là không điều chỉnh mà vẫn giữ nguyên mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi với ngô và lúa mì như hiện hành.

Bộ Tài chính cho rằng giá thức ăn chăn nuôi sẽ giảm không đáng kể khi giảm thuế nhập và để hạ giá thành sản xuất thức ăn chăn nuôi thì cần tính đến biện pháp khác như khuyến khích các doanh nghiệp tăng tỉ lệ sử dụng nguyên liệu sản xuất thức ăn trong nước, tăng cường kiểm tra rà soát giá, ưu đãi tín dụng, hoặc ân hạn thuế…

Nguồn: Vinanet

Nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu 8 tháng đầu năm tăng so với cùng kỳ

Theo số liệu thống kê từ TCHQ, 8 tháng đầu năm 2011 Việt Nam đã nhập khẩu 1,5 tỷ USD thức ăn gia súc và nguyên liệu, tăng 4,34% so với cùng kỳ năm 2011, riêng trong tháng 8 đã nhập 198,7 triệu USD mặt hàng này, tăng 5,36% so với tháng liền kề trước đó.

Ấn Độ, Achentina, Hoa Kỳ, Thái Lan, Trung Quốc… là những thị trường chính nhập khẩu mặt hàng này của Việt Nam. Trong đó, Ấn Độ là thị trường kim ngạch xuất khẩu thức ăn gia súc sang Việt Nam cao nhất với 379,6 triệu USD trong 8 tháng đầu năm 2011, chiếm 24,3% trong tổng kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này của Việt Nam, tăng 61,28% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó nhập khẩu thức ăn gia súc của Việt Nam từ thị trường Ấn Độ trong tháng 8 tăng 24,54% so với tháng 7, tương đương với 15,7 triệu USD.

Những chủng loại mặt hàng chính được nhập về từ thị Ấn Độ là cám gạo, khô dầu hạt cải nguyên liệu làm thức ăn gia súc, khô dầu lạc, khô dầu đậu tương… tại các cảng Hải Phòng, Cảng Vict, Cảng Cát Lái… với phương thức thanh toán chủ yếu là CFR và CNF, CF.

>>Xem thêm

Cá voi mắc cạn hàng loạt ở New Zealand

Các nhà bảo tồn đã buộc phải bắn chết hàng loạt cá voi sau khi chúng bị mắc cạn ở một bờ biển New Zealand và không có khả năng sống sót.

Cá voi mắc cạn ở một bờ biển New Zealand hồi năm 2006

Cá voi mắc cạn ở một bờ biển New Zealand hồi năm 2006

65 con cá voi hoa tiêu, có con dài 5 mét, bị mắc cạn ở bãi biển Farewell Spit, ngoài khơi vịnh Golden, New Zealand. Một người tổ chức tour du lịch đã phát hiện ra bầy cá voi mắc cạn vào đêm 14/11. Lúc đó, 21 con cá đã chết.

Theo Courier mail, do vị trí bãi biển khá xa nên các nhân viên cứu hộ đã không thể cứu bầy cá voi. Chính quyền hy vọng những con cá còn sống sót sẽ trôi dạt ra biển sau đợt thủy triều tối qua. Tuy nhiên, chúng lại dạt sâu hơn vào bờ.

Đêm qua, thêm 6 con cá voi đã không vượt qua được sự cố này. Các nhân viên thuộc Cục Bảo tồn quyết định sẽ bắn chết những con cá voi lại để chúng không phải tiếp tục duy trì sự sống yếu ớt.

“Chúng tôi đã quyết định cho 18 con cá voi còn lại chết không đau đớn”, ông John Mason, một quản lý của Cục Bảo tồn nói.

Cá voi mắc cạn là hiện tượng phổ biến ở Farewell Spit. Các động vật có vú thường bơi vào những nước nông khi thủy triều dâng cao nhưng thi thoảng bị mắc kẹt lại đó do thủy triều rút qua nhanh.

“Bi kịch” của bầy cá voi này diễn ra ngay sau khi 25 con cá voi khác cũng bị mắc kẹt tại đảo Tasmania của Australia cuối tuần qua. Một đội cứu hộ đã được triển khai để cứu con cá duy nhất còn sống, dài 12 mét, bị mắc kẹt ngoài ở bãi cát cảng Macquarie, trên bờ biển phía tây của Tasmania hôm nay. Nỗ lực cứu hộ hôm qua đã bất thành do thời tiết xấu. Ông Chris Arthur thuộc Cục Động vật hoang dã của bang Tasmania cho biết con cá voi nằm trên bãi cát ngay lối vào bến cảng và sẽ được theo dõi cho đến khi điều kiện thời tiết đủ thuận lợi để các nhân viên tiến hành hoạt động cứu hộ.

Nguồn: vnexpress

Giá bột cá có thể tăng 43% năm 2020

Giá dầu cá cũng có thể tăng 19% lên 1.382 USD/tấn trong khi giá cá nuôi có thể tăng 50% lên 2.825 USD/tấn.

Mẫu bột độ đạm (55%), độ ẩm (10%)

Mẫu bột cá Dương Quang có độ đạm (55%), độ ẩm (10%)

Theo báo cáo Triển vọng Nông nghiệp thế giới năm 2011 do Tổ chức Nông Lương Liên Hợp Quốc (FAO) và Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) biên soạn, giá bột cá năm 2020 có khả năng tăng 43%, đạt 1.940 USD/tấn so với mức giá trung bình 1.355 USD/tấn trong giai đoạn từ 2008 đến 2010.

Năm 2020, giá dầu cá cũng có thể tăng 19% lên 1.382 USD/tấn trong khi giá cá nuôi có thể tăng 50% lên 2.825 USD/tấn.

Ông Audun Lem, một trong các tác giả của báo cáo đồng thời là chuyên viên cao cấp về tiếp thị nghề cá của FAO cho biết, đây là lần đầu tiên các số liệu nghề cá được đưa vào báo cáo do số liệu trước đây về nghề cá không đồng bộ.

Việc đưa số liệu nghề cá vào báo cáo làm rõ hơn phạm vi liên kết của các lĩnh vực khác nhau như gia cầm, thủy sản khai thác, thủy sản nuôi và ngũ cốc. Các dự báo nghề cá trong báo cáo chỉ ra mọi mối liên kết từ thủy sản khai thác tới tiêu dùng và giá thịt gà.

Ví dụ, dự báo nguồn cung bột cá và dầu cá vẫn ổn định nhưng giá sẽ tăng do nhu cầu bột cá trong nuôi trồng thủy sản và chăn nuôi đang tăng và dầu cá sẽ phục vụ trực tiếp cho người tiêu dùng. Điều này sẽ làm tăng chi phí và giá sản phẩm thủy sản nuôi. Mặt khác, lĩnh vực nuôi trồng thủy sản có khả năng tăng năng suất và sản lượng nên sẽ kéo chi phí xuống thấp.

Theo những dự báo của FAO và OECD, giá thủy sản nuôi có khả năng tăng mạnh hơn giá thủy sản khai thác. Giá thủy sản khai thác dự kiến chỉ tăng 23%, lên 1.223 USD/tấn năm 2020. Điều này là do những thay đổi sắp tới trong cơ cấu nghề cá, với việc khai thác nhiều hơn các loài cá có giá trị thấp hơn. Xu hướng này vừa mới bắt đầu vì đầu năm nay, các sản phẩm thủy sản nuôi đắt hơn 23% so với hồi tháng 9/2008.

Báo cáo cũng dự báo nuôi trồng thủy sản vẫn là một trong những lĩnh vực tăng trưởng nhanh nhất so với các hệ thống sản xuất thực phẩm khác, với tổng sản lượng đạt 73,6 triệu tấn năm 2020, trừ rong biển (chiếm gần 20 triệu tấn năm 2009).

Tuy vậy, tăng trưởng nuôi trồng thủy sản dự kiến giảm đáng kể từ 5,6% trong giai đoạn 2008 – 2010 xuống mức 2,8% hàng năm.

Sự suy giảm sản lượng thủy sản nuôi là do thực tế sản lượng thủy sản nuôi lúc đầu nhỏ nên tốc độ tăng trưởng ban đầu cao hơn. Tuy nhiên các vùng nước và diện tích nuôi ngày càng hạn chế cũng như những vấn đề mâu thuẫn giữa người sử dụng với các ngành khác. Giá và chi phí cao hơn cũng sẽ gây áp lực tới nhu cầu ở một số thị trường.

Dự báo tăng trưởng sản lượng nuôi trồng thủy sản ở một số khu vực như EU và Bắc Mỹ giảm.

Lượng thủy sản nuôi trong tổng sản lượng thủy sản tiêu dùng dự báo sẽ tăng đều từ 47% trong giai đoạn 2008 – 2010 lên 51% năm 2015 và 54% năm 2020.

Theo Vasep

WWF: Các biện pháp quản lý cá ngừ vây xanh

ICCAT phải đẩy mạnh cải tiến việc đánh giá khoa học về các quần thể cá ngừ vây xanh Đại Tây Dương. Những quyết định của WWF vào năm sau cần phải dựa trên cơ sở khoa học vững chắc.

Cá Ngừ Vây Xanh

Cá Ngừ Vây Xanh

Các bên ký kết của Ủy ban Quốc tế về Bảo tồn Cá ngừ Đại Tây Dương (ICCAT) sẽ gặp nhau tại cuộc họp thường niên lần thứ 22 tại Istanbul trong tháng này để một lần nữa quyết định về các biện pháp quản lý nhiều loài cá ngừ và những loài giống với cá ngừ.

Lần đầu tiên cá kiếm Địa Trung Hải được coi là loài cá chính trong chương trình nghị sự vì từ trước tới này chưa có một kế hoạch quản lý nào đối với loài cá này dù chúng vẫn bị khai thác quá mức.

Khai thác thủy sản trái phép, không được quản lý và không báo cáo (IUU) rất phổ biến trên vùng biển Địa Trung Hải. Một công trình nghiên cứu gần đây của Quỹ bảo tồn Động vật Hoang dã Thế giới (WWF) cho thấy ngay cả khi ICCAT thực hiện một kế hoạch giảm công suất đánh bắt thì sản lượng đánh bắt của đội tàu đánh cá chuyên khai thác cá ngừ vây xanh ở đông Đại Tây Dương và Địa Trung Hải vẫn cao hơn mức tổng hạn ngạch được phép khai thác (TAC), dẫn tới khai thác quá mức.

Trong năm 2011, ICCAT yêu cầu thực hiện những công trình nghiên cứu thí điểm về những phương pháp mới đánh giá khối lượng và số lượng thủy sản tươi được đưa vào lồng nuôi, nhưng rất tiếc vẫn chưa thể truy xuất nguồn gốc của chúng. Một công trình nghiên cứu vừa được giới thiệu trong năm nay cho thấy tỷ lệ sống của cá ngừ tại các trại nuôi chỉ đạt 20-30%, thấp hơn nhiều so với mức báo cáo của ngành. Điều này gây lo ngại về khả năng cắt bớt sản lượng tại các cơ sở nuôi.

ICCAT phải đẩy mạnh cải tiến việc đánh giá khoa học về các quần thể cá ngừ vây xanh Đại Tây Dương. Những quyết định của WWF vào năm sau cần phải dựa trên cơ sở khoa học vững chắc.

Đối với cá kiếm Địa Trung Hải, WWF cho rằng nếu không hành động ngay nguồn lợi cá kiếm cũng sẽ phải đối phó với tình trạng suy kiệt do hiện nay chủ yếu đánh bắt cá con, cá chưa đến tuổi sinh sản.

Theo WWF, cần đảm bảo thực hiện ngay kế hoạch cắt giảm công suất khai thác của các tàu chuyên đánh bắt cá kiếm bằng việc đánh giá công suất đội tàu và ước tính sản lượng cho đội tàu.  Tiếp theo sẽ thực hiện kế hoạch phục hồi nguồn lợi cá kiếm dựa trên cơ sở khoa học.

FAO: Nuôi trồng thủy sản là nguồn dinh dưỡng động vật phát triển nhanh nhất thế giới

Theo báo cáo “Nuôi trồng thủy sản thế giới năm 2010” của Tổ chức Nông lương Liên Hợp quốc (FAO) đến năm 2012, gần ½ lượng thủy sản thế giới làm thực phẩm sẽ có nguồn gốc từ nuôi trồng thủy sản.

Bản báo cáo cho biết: “Do sản lượng đánh bắt thủy sản toàn cầu giảm và dân số ngày càng tăng nên nuôi trồng thủy sản được xem là có tiềm năng lớn nhất để sản xuất thủy sản trong tương lai nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng đối với thủy sản an toàn và chất lượng.”

Tuy nhiên nuôi trồng thủy sản không phát triển đồng đều trên thế giới, vẫn có sự khác biệt lớn về sản lượng, về cơ cấu loài và hệ thống nuôi giữa các khu vực và giữa nước này với nước khác.

Châu Á Thái Bình Dương vẫn chiếm ưu thế trong ngành nuôi trồng thủy sản. Năm 2008, khu vực này chiếm 89,1% tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản toàn cầu trong đó riêng Trung Quốc chiếm 62,3% tương đương 32,7 triệu tấn. Trong 15 nước sản xuất nuôi trồng thủy sản hàng đầu, có tới 11 nước thuộc khu vực Châu Á Thái Bình Dương. Tiếp sau Trung Quốc là Ấn Độ 3,5 triệu tấn, Việt Nam 2,5 triệu tấn, Inđônêxia 1,7 triệu tấn, Thái Lan 1,2 triệu tấn, Bănglađét 1 triệu tấn, Na Uy 844.000 tấn, Chilê 843.000 tấn, Philippin 741,000 tấn và Nhật Bản 732,000 tấn.

Nhiều nước dẫn đầu sản lượng một số loài chính như Trung Quốc là cá rô phi; Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam, Inđônêxia và Ấn Độ là tôm, Na Uy và Chilê là cá hồi.

Về các hệ thống nuôi, hệ thống nuôi thâm canh phổ biến hơn ở Bắc Mỹ và các nước sản xuất nuôi trồng thủy sản tiến tiến ở Châu Âu và Mỹ La tinh. Ở Châu Á Thái Bình dương, dù đạt được nhiều tiến bộ về kỹ thuật, nhưng các nhà kinh doanh quy mô nhỏ vẫn đóng vai trò chủ đạo của ngành.

Hiện nay, người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến sản phẩm chất lượng và an toàn, sức khoẻ và nhân đạo đối với vật nuôi. Vì thế, vấn đề an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và dán nhãn sinh thái tiếp tục ngày càng quan trọng và được xem là ưu tiên hàng đầu của nhiều chính phủ.

Ngoài vấn đề phát triển bền vững môi trường, những thách thức khác mà ngành nuôi trồng thủy sản phải đối mặt là biến đổi khi hậu và khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Vì thế ngành cần phải ẵn sàng đối phó với những tác động có thể xảy ra và có những nỗ lực đặc biệt cho các nhà sản xuất nhỏ bằng cách tổ chức cho họ tham gia các hiệp hội và triển khai các biện phá quản lý ngành tốt hơn.

Intrafish & Seafoodsource

%d bloggers like this: